Vườn ÊĐen Mới | Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn
















MỘT MỤC-SƯ BỘ-ĐỘI - Một Đóa Hướng Dương (Bài chọn đăng 17)
Ngày 09/12/2014

Có một người anh mà tôi quen biết trên đường hầu việc Chúa, lại là một người xuất thân từ bộ đội. Thật ra thì anh là một học sinh của trường Pétrus Ký tại Saigon từ trước năm 1964, nhưng anh không thể nào chấp nhận khi nhìn thấy những người lính nước ngoài có mặt trên quê hương mình. Cho dù người ta có nói như thế nào đi nữa, thì đó cũng là một hình ảnh xúc phạm đến dân tộc anh.

Bên cạnh đó, anh cũng đã được đọc một vài quyển sách giới thiệu về chủ nghĩa Cộng sản và anh lấy làm say mê. Anh thấy nó rất giống với những gì đã được ghi trong Kinh-thánh, nên đã hỏi một giáo-sĩ rằng: “Một người Tin-lành có quyền làm chính trị không?” Có lẽ vị giáo-sĩ hơi ngạc nhiên về câu hỏi ấy, nhưng cũng có thể ông nghĩ rằng chàng sinh-viên nầy muốn phấn đấu để trở thành một chính-trị gia. Cho nên ông đã trả lời rằng: “Được!” mà không bao giờ ngờ rằng chỉ vì vậy mà chàng sinh-viên kia đã quyết định tìm vào chiến-khu để chống Mỹ.

Đương nhiên là người ta đã nói với anh rằng: “Chúng ta chiến đấu cho tự do, mà trong đó có cả quyền tự do tín ngưỡng”. Cho nên, khi vừa vào Đại-học năm thứ nhất, thì anh đã “xếp bút nghiên” để tìm vào chiến khu D, năm 1964, qua sự chỉ dẫn của những sinh viên cùng lý tưởng lúc ấy, và không quên mang theo quyển Kinh-thánh. Nhưng chính điều nầy đã khiến cho anh bị họ nghi ngờ và bạc đãi. Họ tìm nhiều cách để thuyết phục anh phải bỏ đạo Tin-lành, nhưng vô ích. Tới chừng đó anh mới thấy rằng mình đã lầm, nhưng con đường đã đóng kín lại sau lưng, và anh chỉ còn một cách là phải đi tới.

Cũng chính vì vậy mà người ta vẫn phát súng cho anh, nhưng lại không cho anh ra chiến trường mà chỉ làm giáo viên trong chiến khu. Dù vậy, vào những lúc chiến khu D bị tấn công, thì anh cũng phải sống trong cảnh bom đạn cũng như tất cả mọi người.

Có một lần anh vác khẩu AK và đang đi trong rừng thì thình lình một chiếc trực thăng sà xuống anh. Rõ ràng là khu rừng đó rất thưa nên chiếc trực thăng có thể nhìn thấy anh và nó đã lập tức có mặt ngay trên đầu anh. Khi anh vừa nhìn thấy chiếc trực thăng trên ngọn cây trước mặt mình và chỉ cách chừng 10 thước, thì anh cũng nhìn thấy một người Mỹ cùng với khẩu đại liên đen ngòm đang chĩa thẳng vào mình.

Anh hoàn toàn không kịp phản ứng vì mọi việc đang diễn ra quá nhanh. Anh chỉ có thể kêu lên một tiếng trong tâm linh mình rằng: “Chúa ơi, cứu con!” rồi anh nghe tiếng đại liên nổ dữ dội và những lá cây rơi lả tả chung quanh mình. Anh vẫn đứng đó như bị trời trồng và cũng không biết được chuyện gì đang tiếp diễn. Trong thâm tâm anh nghĩ rằng mình đã chết rồi, và đến khi cơn kinh hoàng qua đi thì anh mới dần dần trở về với thực tại. Chiếc trực thăng đã bay đi mất có lẽ vì nó nghĩ rằng đã làm xong công việc, còn xung quanh anh thì cây cối bị tàn phá bởi những viên đạn đại liên. Những vết đạn nằm sát ngay bên người anh và anh nhìn xem mình đã bị trúng đạn ở chỗ nào. Anh quan sát thân thể anh: không thấy có vết đạn hay vết máu. Anh quan sát đến tay chân thì cũng không thấy có một vết đạn nào. Thậm chí quần áo của anh cũng bị sém vì đạn, nhưng lạ quá, anh không bị trúng một viên đạn nào cả.

Tới chừng đó anh mới biết rằng Đức Chúa Trời đã giải cứu mình một cách lớn lao là dường nào. Có lẽ trong 10.000 trường hợp như thế xảy ra thì chỉ có một người sống sót và người đó lại chính là anh. Nhưng anh sống sót mà thân thể vẫn còn nguyên vẹn thì thật là không thể tin được. Độ rung của khẩu đại liên không phải là lớn ở khoảng cách 10 mét. Nhưng anh lại nằm ở ngay những khoảng hở của độ rung đó mà không ai có thể ngờ tới được. Anh chỉ biết tạ ơn Chúa ngay giữa khu rừng và tiếp tục nhờ cậy nơi Ngài trong suốt con đường còn lại.

Có một lần anh đang trú ẩn với đồng đội trong một căn hầm giữa chiến khu. Trong căn hầm đó có cả những người bạn nam lẫn nữ mà anh rất thân tình trong chiến đấu. Khoảng một lát thì anh bước ra ngoài để đi vệ sinh. Nhưng khi anh chưa kịp quay trở về thì đã nghe một tiếng nổ dữ dội ở gần bên mình. Anh lập tức chạy vội về căn hầm để tìm nơi trú ẩn. Nhưng khi vừa về tới căn hầm thì một cảnh tượng kinh-hoàng đã bày ra trước mắt anh: Tiếng nổ hồi nãy là do một quả bom (hay đạn đại bác) không biết từ đâu đã rơi trúng căn hầm và làm cho tất cả bạn bè của anh đều chết. Anh nhìn thấy thi thể của từng người trong căn hầm và cảm thấy đau xót trong lòng. Họ vốn có rất nhiều kỷ niệm với anh và vừa mới nói chuyện vui vẻ với anh. Thế mà chỉ vài mươi giây sau thì tất cả đã từ giã anh mà không nói được một lời nào.

Bỗng anh suy nghĩ: nếu hồi nãy mình không rời khỏi hầm, thì chuyện gì đã xảy ra? Chắc chắn là anh cũng không thoát được cái chết cũng giống như tất cả bạn bè của anh vậy. Một lần nữa, anh tạ ơn Đức Chúa Trời đã giải cứu mình thoát khỏi một cái chết mà không ai có thể ngờ tới được.

Nhưng điều đáng tiếc lần nầy là sự sống sót của anh đã không được đồng đội đón nhận một cách vui vẻ như lần trước. Lần trước là anh sống sót một mình giữa khu rừng, khi đối diện với chiếc trực thăng, còn lần nầy là anh sống sót một cách lạ kỳ trong khi tất cả những người khác đều chết. Đương nhiên là bom ném (hay đạn đại bác rơi) thì không ai có thể nói trước được. Có thể anh đã bị chết một mình nếu quả bom đó rơi gần nơi anh đang đi vệ sinh. Lúc đó thì đồng đội chỉ phải khóc thương một mình anh mà thôi. Nhưng một phần có lẽ là do quá đau thương về những người bạn đã chết nên có một số người lại nghĩ rằng: Tại sao anh lại sống sót chứ? Anh có phải là người đáng tin hay không? Hay anh là gián điệp của người Mỹ được gài vào đây để chống Cộng...?

Anh đã tâm sự rằng đó là những ngày khủng khiếp nhất của đời anh: bị đồng đội nghi ngờ, và anh cảm thấy rằng đối với mình thì chết còn hơn sống. Anh không thể biện hộ được rằng tại sao mình lại sống sót, mà người ta cũng không thể lên án sự sống sót của anh được. Dù vậy, bầu không khí căng thẳng và nặng nề vẫn không rời khỏi anh và các đồng đội trong nhiều ngày sau đó. Khi cơn đau đã nguôi đi, dần dần người ta mới tin rằng anh đã thật sự sống sót là nhờ may mắn, một sự may mắn lạ lùng. Bạn bè cũng dần dần hiểu được nỗi đau của anh và tìm cách gần gũi lại với anh. Dù vậy, anh đã phải trả một cái giá quá đắt đối với con người, cho lần sống sót nầy.

Khi cuộc chiến bùng nổ dữ dội trong những năm sau đó, anh đã phải đối diện với vô số hiểm nguy trong chiến khu. Đúng là chỉ có “đạn tránh người”, chứ người thì không thể nào nhìn thấy để mà tránh đạn được. Tiếng bom nổ, tiếng đạn đại bác, tiếng súng nhỏ… vẫn không ngừng rít quanh những con người nhỏ bé trên chiến trường. Cho dù bạn có can đảm cách mấy, nhưng khi đã đối diện với cái chết, thì không có ai mà lại không run sợ, nhất là trước những hỏa lực khủng khiếp của người Mỹ. Giờ đây anh lại phải chứng kiến thêm biết bao nhiêu đồng đội ngã xuống và chính anh cũng không dám nghĩ là mình sẽ còn sống sót.

Có một lần, trong một trận đánh dữ dội, giữa cảnh bom đạn cày xới và mặt đất rung chuyển xung quanh, anh tưởng là mình sắp chết nên đã kêu lên với Chúa rằng: “Chúa ơi, con là con chiên đã trót dại xa bầy từ lâu, cầu xin Ngài thương xót và gìn giữ linh hồn con!”

Rồi sau đó, trong một trận đánh ác liệt khác, anh đã hứa nguyện với Chúa trong cơn sợ hãi tột cùng rằng: “Chúa ơi, nếu Ngài giữ gìn mạng sống con, thì khi hòa bình, con sẽ bỏ tất cả để hầu việc Chúa!” Bởi lời cầu nguyện đó mà Chúa đã chuẩn bị cho cuộc đời anh một ngã rẽ quan trọng.

Vào năm 1968 anh bị thương nặng, và cho dù là sau khi được lành thì anh vẫn đi lại bình thường, nhưng lần bị thương nầy đã khiến cho anh không thể tiếp tục hoạt động trong “Chiến khu rừng sác” được nữa. Đương nhiên là vì anh không thể sống ở miền Nam, nên người ta đã tìm cách chuyển anh ra miền Bắc với một lời nhận xét bí mật rằng: “Phải theo dõi người nầy!” Nhờ sự khéo léo mà anh đã đọc được hàng chữ đó trên mớ hồ sơ nói về anh và đã vứt chúng đi. Việc đầu tiên khi anh ra tới Bắc là tìm một nhà thờ Tin-lành để nhóm lại. Nhà thờ ở Ngõ Trạm Hà-nội vắng hoe và chỉ có một ít người cao tuổi đi nhóm.

Anh sống ở miền Bắc do đồng lương trợ cấp cho những thương binh. Đương nhiên là anh chỉ vừa đủ sống, nhưng có một điều quan trọng mà anh cần phải làm là tìm cho ra những người con của Chúa. Không những nhà thờ Tin-lành mà ngay cả các nhà thờ Công giáo cũng rất vắng vẻ, cho nên không dễ gì mà có thể tìm được một người trẻ tuổi có đức tin. Chỉ có một cách là anh phải huýt sáo những bài thánh ca ở khắp nơi nào mình đi đến, để xem có ai nhận ra không. May mắn cho anh vì có một người nhận ra anh và nói nhỏ với anh rằng người ấy cũng theo đạo Tin lành. Nhờ vậy mà sau đó anh lại tình cờ được quen với một cô gái khá xinh đẹp theo Công giáo.

Khi lần đầu tiên anh làm chứng cho cô gái ấy về Chúa thì cô đã bật khóc, bởi vì cô không biết gì về Chúa cả. Mặc dù mang danh là “một người Công giáo có đức tin rất mạnh”, nhưng đó chỉ là vì gia đình cô vẫn cương quyết đi nhà thờ, cho dù là mọi người có chối Chúa đi nữa. Đó là lần đầu tiên mà cô được nghe nói về Chúa một cách rõ ràng và điều đó đã khiến cho cô rất cảm động.

Sau nầy, cô tâm sự với chúng tôi rằng ngay khi ấy cô đã cảm nhận được rằng đó là người chồng tương lai của mình, trong khi chính anh cũng cảm nhận được rằng cô chính là người vợ mà Chúa đã sắm sẵn cho anh. Cô cũng nói rằng sống ở giữa một xã hội không coi trọng đời sống tâm linh, điều mà cô luôn cầu xin trong cả cuộc đời mình là có được một người chồng trong Chúa. Cô tin quyết rằng Chúa đã đáp lời cầu xin của mình và dẫn anh đến với cô, cho dù là có từ trong miền Nam mà ra tới miền Bắc đi nữa. Theo thời gian, tình cảm của họ đã dần dần lớn lên qua quyển Kinh thánh và cho tới một ngày kia thì cô đã nhận lời cầu hôn của anh.

Nhưng đã có không ít những thử thách xảy ra cho đám cưới của họ. Gia đình của cô ấy chống đối, vì nhận thấy anh ấy chỉ là một tên lính nghèo và không có tài sản chi hết. Giáo hội Công giáo chống đối vì cho rằng một người con gái Công giáo thì không nên lấy chồng theo đạo Tin lành. Nhưng những sự chống đối về phía nhà cầm quyền thì xem ra còn nặng nề hơn nhiều.

Nếu bạn cưới một người con gái Công giáo trong xã hội thời ấy, thì bạn sẽ bị tước đoạt đi nhiều thứ quyền lợi. Bạn có thể bị trục xuất ra khỏi ngành nghề và trở thành một kẻ thất nghiệp, ấy là chưa kể đến việc bạn sẽ bị theo dõi. Chính vì chủ trương đó mà nhiều người con gái có đạo đã không chịu nổi mà đành phải bỏ đạo.

Thậm chí có người còn tới nhà mà nói thẳng với anh rằng chuyện đám cưới đó sẽ không thành được đâu, đừng có sống trong ảo tưởng. Cô đã khóc rất nhiều khi nghe những lời ấy, còn anh thì nổi giận và đuổi những người đó ra khỏi nhà. Điều làm cho cô cảm động là khi nhìn thấy anh dám sẵn sàng từ bỏ mọi thứ và thậm chí là giày đạp lên những lời báng bổ, để xây dựng gia đình với cô.

Nhờ sự cương quyết của anh và lòng tin của cô mà đám cưới của họ đã được diễn ra như mong đợi. Số người đến với đám cưới của họ là đông quá sức tưởng tượng, bởi vì ngoài những người được mời ra thì cũng có vô số người đổ tới để xem nữa. Họ chỉ muốn biết cái đám cưới đó có được hình thành hay không và nó đã diễn ra như thế nào? Đương nhiên là nó được hình thành vì đó là đám cưới của những người tin kính Chúa, và sau đó họ đã sống hạnh phúc bên nhau trong một thời gian tại miền Bắc.

Khi đất nước được thống nhất thì anh đã quyết định là phải quay trở về miền Nam bằng mọi giá. Bởi vậy, hai vợ chồng đã bán hết tài sản ở Hà nội và tìm mọi cách mua vé tàu hỏa để vào được Saigon. Nhưng anh chỉ mua được một vé cho mình mà không tài nào mua thêm được một vé nữa. Động lòng trước tình cảnh của anh chị, một người đàn ông có tuổi đã nói với họ rằng: “Tôi sẽ để con gái tôi ở lại Hà-nội, và nhường vé của nó cho chị”. Nhờ sự hi-sinh của người đàn ông tốt bụng đó mà hai vợ chồng đã cùng nhau vào được Sài gòn.

Trước khi đi kháng chiến thì người con trai 18 tuổi đó chỉ viết cho Bố Mẹ một bức thư nói rằng: “Ngày mai con sẽ đi, và một ngày mai nào đó con sẽ trở về”. Anh chỉ được gặp Mẹ một lần duy nhất khi bà ghé thăm anh ở chiến khu D, do một sự dàn-xếp, và đó cũng là lần cuối cùng mà anh nhìn thấy Mẹ.

Giờ đây, anh lại viết một bức thư cho gia đình ở Saigon, và Bố anh đã hồi âm rằng: “Bấy nhiêu năm xa cách mà con vẫn giữ được đức tin, thì đó là một điều vui mừng cho Bố”. Ông cụ râu tóc bạc phơ đó đã đứng chờ anh mỗi ngày ở đầu ngõ, cho tới khi nhìn thấy con trai mình quay trở về, sau 11 năm xa cách. Họ đã ôm nhau mà khóc và anh chỉ nói rằng: “Con có lỗi lớn lắm vì đã không phụng dưỡng được cha. Xin cho con không nhận bất cứ một phần gia tài nào mà cha để lại!”

Sau đó, hai vợ chồng đã mua một căn nhà tại Phú-nhuận và chọn Hội thánh Trương-Minh-Giảng làm nơi hầu việc Chúa. Anh thật là một người có ơn và đã làm chứng cho nhiều người tiếp nhận Chúa. Thậm chí có một lần anh hát tôn vinh Chúa ở trước Hội thánh mà tôi phải lấy làm ngạc nhiên (lúc đó tôi đang điều chỉnh amply cho buổi thờ phượng). Rõ ràng là bài hát của anh được đầy ơn và sự sống của Chúa, thậm chí còn hơn cả bài giảng của mục sư sau đó. Điều đó chứng tỏ rằng anh là một người rất có năng lực và dần dần anh cũng đã trở nên một người nổi tiếng trong Hội thánh.

Nhưng cũng nhờ đó mà lần đầu tiên tôi mới hiểu ra được một điều rằng: không phải bài giảng lúc nào cũng là trọng tâm của buổi nhóm. Điều nầy là hoàn toàn phù hợp với những gì đã xảy ra trong Hội thánh đầu tiên và được ghi chép lại trong Kinh thánh. Đức Thánh Linh có thể vận hành trên mỗi buổi nhóm một cách khác nhau. Có lúc bài giảng là trọng tâm (Công vụ 20:7b), có lúc sự cầu nguyện là trọng tâm (Công vụ16:13), và cũng có lúc sự bẻ bánh là trọng tâm nữa (Công vụ 20:7a)…

Có một người bà con bên vợ anh cũng lặn lội từ Hà-nội vào Saigon và nói với anh rằng: “Nhờ anh giúp đỡ để em tìm được việc làm ở đây, vì em cũng không biết phải sống như thế nào ở Hà-nội nữa!” Đương nhiên là anh chị sẽ giúp đỡ cô, nhưng việc trước tiên là anh phải làm chứng cho cô ấy về sự cứu rỗi của Chúa. Cô đã tỏ ra ngạc nhiên khi được nghe về Tin-lành và cuối cùng đã tiếp nhận Chúa.

Sau khi đã được làm báp-tem, cô ấy nói rằng: “Em phải trở về Hà-nội ngay!” Cả hai anh chị đều ngạc nhiên: “Sao vậy?” Cô ấy đáp: “Dạ, để cứu những người chưa tin Chúa”. Thật vậy, cô ấy đã trở về Hà-nội và giúp đỡ cho nhiều người tiếp nhận Chúa, mà trong đó có rất nhiều người bà con bên chị.

Ngày nay cô ấy không còn nghèo nữa mà đã được Chúa chúc phước và trở nên rất giàu có. Hiện cô ấy đang có kế hoạch xây cất một Dưỡng-trí-viện để tiếp đón những người Tin-lành cao tuổi tại Hà-nội.

Một thời gian sau đó, khi nhóm cầu nguyện của tôi được Chúa thăm-viếng, thì những kẻ “khô-khan” trong Hội-thánh lại dòm hành chúng tôi. Họ cảm thấy “khó chịu” khi chúng tôi dành nhiều thì giờ để quì gối và thờ-phượng Chúa mỗi ngày, và cho rằng đó là một “hiện tượng lạ”.

Cho nên, khi chúng tôi được “mời” ra khỏi nhà thờ, thì chính anh là người đã tiếp rước chúng tôi tại nhà mình. Chính anh cũng thấy là Hội thánh của Chúa không phải chỉ nằm trong một giáo phái mà thôi, nên đã bắt đầu thành lập một buổi nhóm riêng tại nhà anh. Chúng tôi không thể nào quên được những buổi nhóm đầu tiên đầy phước hạnh ấy và sau đó là dùng bữa đơn sơ với nhau. Cho tới nay thì nó đã trở thành một truyền thống của Hội thánh nầy: họ thường dùng bữa với nhau sau những buổi nhóm, cũng như Hội thánh đầu tiên vậy. Mà điều đó là hoàn toàn đúng với lời Chúa đã dạy-dỗ rằng: “Hễ khi nào các con uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta” (I Cô-rinh-tô 11:25). Nhờ đó mà mối tương-giao giữa các thánh-đồ được trở nên gắn bó và những con-cái của họ cũng ít khi nào bị dan díu tình cảm với người ngoại.

Đó chính là Hội-thánh tư-gia đầu tiên tại Saigon và anh cũng là mục-sư tư-gia đầu tiên vậy. Thật ra thì những bài giảng của anh cũng không thua kém gì các mục sư có ơn trong nhà-thờ, và ngoài ra thì anh còn viết thêm nhiều sách vở để lập vững đức tin của các tín đồ nữa.

Một trong những đối-tượng truyền-giáo mà anh quan-tâm là những người thuộc dân-tộc thiểu số. Cứ mỗi khi bước lên xe đò hoặc đi qua những nơi đông người thì anh vẫn thích thổi những bài thánh-ca bằng kèn harmonica để có thể tìm ra những người con Chúa. Và khi đã tìm ra được một người thì anh bèn phối hợp với họ để mở rộng sự truyền-giáo cho khu vực ấy. Chính vì thường đi lên miền cao để cứu người cho nên anh cũng quen biết với nhiều mục-sư và truyền-đạo người sắc-tộc. Một ngày kia có một anh em sắc tộc ghé thăm anh và mang theo một mớ rễ cây xá xị. Đó là một món quà của cao nguyên mà tôi phải lấy làm ngạc-nhiên khi nghe nói tới. Anh đã chia cho chúng tôi mỗi người một phần để đem về nấu, và đó là lần đầu tiên trong đời mà tôi được uống nước xá xị nguyên chất. Thật đúng như anh nói, nó thơm và ngon mà những chai xá xị trên thị-trường không thể nào có được. Nhiều lúc được uống nước xá xị về sau nầy, tôi lại nhớ tới anh và không quên những kỷ-niệm đầu tiên mà chúng tôi có được về nhau.

Trong lúc các hệ-phái khác thường ra sức giữ con chiên của mình, để nó không đi vào những chuồng chiên khác, và thậm chí có những người chăn đã từng xung-đột với nhau để giành-giật con chiên, thì tâm-tình của anh lại khác hẳn. Anh luôn chào đón những người mới đến với Hội-thánh của mình, cũng như chúc phước cho những người đi qua các hệ-phái Tin-lành khác, miễn là họ được gây dựng. Nhưng có một điều mà tôi cảm thấy ngạc-nhiên là khi có những giáo-sĩ nước ngoài muốn phong chức cho anh, thì anh lại nói rằng: “Tôi tin rằng mình đã được Đức Chúa Trời phong chức rồi, và chính những kết-quả mà Chúa ban cho cũng đủ để làm chứng cho chức-vụ của tôi!” Có lẽ bạn cảm thấy ngạc nhiên vì sự nhìn nhận của các giáo-sĩ đâu có ảnh-hưởng gì tới chức-vụ của anh, mà thậm chí nó có thể khiến cho anh nhận được thêm uy-tín đối với cộng-đồng nữa. Nhưng nếu bạn biết rằng có nhiều người muốn trở thành mục-sư, chỉ để có thể “mượn đạo tạo đời” một cách êm thắm, thì việc làm của anh lại có thể có thêm ý nghĩa.

Bởi vậy mà có lần anh tâm-sự với chúng tôi: “Nếu nhận sự trợ giúp của các giáo-phái để trở thành người của họ, thì anh sẽ không thể hầu việc Chúa một cách tự-do được nữa. Khi đó mình sẽ dễ-dàng trở thành một công cụ của tổ-chức, vì phải báo-cáo với họ hằng tháng hoặc hằng năm, hơn là làm công-cụ cho Đức Chúa Trời. Không, anh chỉ muốn hầu việc Chúa bằng một lương-tâm thanh-sạch, chứ không muốn lãnh lương của một giáo-phái nào hết!”

Cho nên, khi có người hỏi rằng Hội-thánh của anh thuộc về giáo-phái nào, thì anh chỉ nói rằng: “Chúng tôi là Hội-thánh của Đức Chúa Trời như đã ghi trong Kinh-thánh, chứ không thuộc về một giáo-phái nào cả!” Nhưng bên cạnh đó tôi biết rằng tấm lòng của anh cũng rất yêu mến sự hiệp nhất của dân Chúa. Có lẽ vì vậy mà anh không muốn tham-gia hoặc lập ra một giáo-phái mới nào hết, để dân Chúa có thể đến gần nhau trong sự hiệp nhất chăng?

Đương nhiên là nhà cầm quyền không bao giờ cho phép sự có mặt của các Hội-thánh tư gia vào thời điểm đó. Có nhiều lần khi họ đang nhóm thì công an đã tới nhà anh và yêu cầu mở cửa để giải tán buổi nhóm.  Nhưng anh đã trả lời rằng: “Các anh phải đứng chờ ở đây, cho tới khi chúng tôi đã thờ phượng Chúa xong, sau đó chúng tôi sẽ tiếp các anh!” Có lẽ ít có người nào mà dám nói với công an như vậy, nhưng anh thì không sợ vì biết mình không làm điều gì sai và đã được thử nghiệm qua lò lửa của chiến-tranh. Khi đã thờ phượng Chúa xong, anh yêu cầu công an để cho các thánh đồ ra về, vì anh hoàn toàn chịu trách nhiệm về buổi nhóm.

Sau đó, khi họ yêu cầu chấm dứt những buổi nhóm, thì anh đã trả lời rằng: “Chúng tôi chỉ thờ phượng Chúa chứ không làm một điều gì khác. Chỉ khi nào tôi chết, thì tôi mới không còn thờ phượng Chúa nữa!” Rồi anh chỉ cho họ thấy những huân chương chống Mỹ của anh được treo trên vách, thì họ đã bỏ ra về.

Nhưng sau đó, họ đã nhiều lần mời anh tới và nói rằng: “Nếu anh đã từng chiến đấu cho lý tưởng Cộng sản, thì tại sao ngày nay anh lại giảng đạo Tin-lành chứ?” Và anh đã trả lời rằng: Hai điều đó hoàn toàn khác nhau. Một bên lo về việc đời, một bên lo về việc trời. Họ không trả lời được.

Sau đó anh lại tiếp-tục đi giảng đạo ở những miền xa và phải trải qua những sự bắt bớ dữ dội. Thậm chí có những lúc anh đã bị trói và đẩy vào tù, mặc dù người ta biết rõ anh là người đã từng đi kháng chiến. Có một lần công an đã thả anh ra khỏi tù và lệnh cho anh phải rời khỏi địa phương nầy lập tức. Nhưng trời lúc đó đã gần tối nên anh quyết định quay trở lại nơi nhóm họp mà mình đã bị bắt trước đó. Anh bước tới gần ngôi nhà vẫn còn ánh đèn dầu, và khi anh đẩy cửa bước vào thì mới thấy là mọi người đang quì gối và cầu nguyện cho anh. Dĩ nhiên là họ rất mừng khi được nhìn thấy anh, còn anh thì vẫn không giấu được sự cảm-động khi thuật lại cho chúng tôi nghe câu chuyện nầy. Có lẽ trong những giờ phút đó, người ta mới kinh-nghiệm được rõ-ràng về tình yêu thương của Chúa Cứu Thế đối với Hội-thánh. Một tình yêu thương đã khiến cho họ yêu thương Ngài, yêu thương anh em, và yêu thương chính những người bắt-bớ mình nữa …

Cuối cùng, trải qua bao nhiêu gian khó, anh cũng lập được Hội thánh ở nhiều nơi và cứu được thêm nhiều người, mà nhất là những người sắc tộc.

Hội thánh mà anh thành lập hiện vẫn đang đứng vững với số người lên đến hằng trăm, và là một trong nhiều Hội-thánh tư-gia đang mọc lên trên khắp đất nước Việt Nam.

Người thuật chuyện
Một Đóa Hướng-Dương

1876 lượt xem
Các bài trước
CÂU CHUYỆN KỲ DIỆU - Đào Văn Hiền (Bài chọn đăng 16) (06/12/2014)
NHỮNG GIẤC MƠ TIÊN TRI - Lạc Linh Sa (Bài chọn đăng 15) (06/12/2014)
HẠNH PHÚC THẬT - Đào Văn Hiền (Bài chọn đăng 14) (02/12/2014)
NHỮNG NGÀY KHÓ QUÊN (05/12/2014)
RỒI TRỜI SẼ NẮNG LẠI - Lạc Linh Sa (Bài chọn đăng 13) (29/11/2014)
NIỀM VUI ĐƯỢC NHÂN ĐÔI - Đào Văn Hiền (Bài chọn đăng 12) (27/11/2014)
CĂN NHÀ MÀU XANH – Nguyên J (Bài chọn đăng 11) (26/11/2014)
QUY TẮC VIẾT TIẾNG VIỆT (27/11/2014)
CÁCH VIẾT TRUYỆN NGẮN (25/11/2014)
CÔ GÁI ĐỘI BÊ-RÊ ĐỎ - Lạc Linh Sa (Bài chọn đăng 10) (25/11/2014)
Thánh Kinh Trắc Nghiệm 2000  
THÁNH KINH TRẮC NGHIỆM 2000 - Bài 55
 
Tuyển Tập Viết Cho Niềm Tin 2016  
SAO CON KHÓC - Hải Yến
 
Truyện Ngắn & Bài Viết  
NGƯỜI ĐÀN BÀ SAMARI BÊN GIẾNG NƯỚC
 
Giới Thiệu Nhạc Thánh Mới  
CHÚC TÔN DANH THÁNH NGÀI - Ca Khúc An Bình
 
Cùng Suy Gẫm Với Mục Sư Lữ Thành Kiến  
HOA VÀNG MỘT... BÓ
 
Dưỡng Linh  
NGƯỜi HẦU VIỆC CHÚA CHÂN CHÍNH
 
Tạ Ơn Chúa  
Bài làm chứng: VƯƠNG TRÀ MY
 
Kinh Thánh  
KINH THÁNH TÂN ƯỚC: Sách KHẢI HUYỀN
 
VHope  
NẾM BIẾT CHÚA
 
Đức Tin  
TIN TỨC TỐT LÀNH CHO BẠN HÔM NAY!
 
Tin Tức  
KHÔNG PHẢI NÓI VỀ CHÚNG TA MÀ VỀ CHÚA
 
Thơ & Nhạc  
KHÚC THU CA
 
Góc của Ađam & Êva  
HÃY LẮNG NGHE NHAU BẰNG TRÁI TIM
 
Phát Thanh Tin Lành Toronto  
PHÁT THANH TIN LÀNH TORONTO 16/11/2019
 
Kịch Cơ Đốc  
NẾU CHỈ CÒN 1 NGÀY....
 
Nghiệm và Sống  
Bắt Đầu Với Ai Hôm Nay?
 
Nhận Được & Giới Thiệu  
NẾP SỐNG MỚI - Đám Tiệc hay Đám Tang
 
Tin Lành Media  
Lễ Cung Hiến Thánh Đường HTTL Tây Bắc
 
Thánh Kinh Giải Đáp  
CƠ ĐỐC NHÂN CÓ TIN VÀO BÁC SĨ?
 
Giải Ảo Tâm Linh  
Giải Ảo Tâm Linh - Thuốc Chữa Bệnh Sợ
 
Khoa Học Minh Họa  
Đà Điểu
 
Tài Liệu  
BỨC TRANH CƠ ĐỐC GIÁO TOÀN CẦU 2019
 
Hội Thánh Truyền Giáo Trên Đường Dây  
XƯNG CÔNG CHÍNH BỞI ĐỨC TIN - MS Nguyễn Thới Lai
 
Phút Suy Tư (PowerPoint Slide Show)  
KHI TÔI QUỲ NƠI CHÂN CHÚA
 
Bạn Hữu Âm Nhạc  
CHÚA XUÂN
 
Nhật Ký Truyền Giáo  
MUỐI CỦA ĐẤT
 
Cuộc Thi Viết Nhạc Thánh  
CHUNG KẾT CUỘC THI VIẾT NHẠC THÁNH 2015
 
Chia Sẻ Phim & Ảnh  
Con Tàu Nô-ê đã tìm thấy và cơn Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh là có thật
 
Hoa Tư Tưởng  
HOA TƯ TƯỞNG 29
 
Sưu Tầm  
“BỚ SỰ CHẾT, ĐÂU LÀ SỰ ĐẮC-THẮNG CỦA MÀY?”
 
Website Cơ Đốc  
GIỚI THIỆU WEBSITE CƠ ĐỐC