Vườn ÊĐen Mới | Dưỡng Linh
















SỰ KHÔN NGOAN
Ngày 19/02/2018

MS Peter The Van Le


Kinh Thánh: "Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức; còn kẻ ngu muội khinh bỉ sự khôn ngoan và lời khuyên dạy" (Châm-ngôn 1: 7).

Có hai sự khác biệt giữa ranh giới của sự khôn ngoan, đó là sự khôn ngoan của thế gian và khôn ngoan trong đường lối của Đức Chúa Trời. Trong tự điển tiếng Việt, định nghĩa: "Khôn ngoan là cách xử sự, biết tránh cho mình những điều không hay; là cách ứng xử khôn ngoan."   Khôn ngoan của thế gian bao gồm học thức, được giáo dục, hoặc rèn luyện trong trường lớp ngoại giao, kinh doanh, khoa học, chính trị, những bài học kinh nghiệm của người xưa, những mánh khoé, lọc lừa, tìm mọi cách để thắng hơn người khác, giành giựt quyền lợi cho bản thân.

Khôn ngoan trong đường lối của Đức Chúa Trời hoàn toàn khác hẳn. Thánh Kinh tự điển định nghĩa: "Sự khôn ngoan là lối dùng những phương pháp phải lẽ để đạt tới mục đích hay là lối dùng mọi sự biết cách phải lẽ. Sự khôn ngoan được sự từng trải của người, và người khôn ngoan là lúc già cả (Gióp 12: 12; 15: 10; Truyền 14:3). Trong tôn giáo Đấng Christ, người khôn ngoan là người khéo lo về những sự thuộc về Đức Chúa Trời."

Sự khôn ngoan này được Kinh Thánh răn dạy. Khôn ngoan ở đây không nhuốm màu thế tục; nó không được che đậy bởi những tấm bình phong của đạo đức "giả nhân giả nghĩa." Khôn ngoan theo tiêu chuẩn Kinh Thánh, trước hết là có đời sống kính sợ Đức Chúa Trời; được bày tỏ qua nếp sống đạo với những phẩm hạnh theo điều răn dạy của lời Chúa.

Sự khôn ngoan này được tìm thấy rất nhiều trong Cựu Ước:

"Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và các người khôn khéo, tức là người được Đức Giê-hô-va phú cho sự khôn ngoan và sự thông sáng đặng làm các công việc định dụng, về việc tế lễ nơi thánh, đều làm mọi việc Đức Giê-hô-va đã phán dặn"(Xuất 36: 1).

Về một khía cạnh cao siêu hơn, con người thế gian luôn tìm kiếm sự khôn ngoan trong những niềm suy tư về luân lý, đạo đức, học thuật...để rồi biến thành những triết lý của văn minh loài người trải qua từng thời đại. Sự suy tư đó dần đưa đến gần hơn với những tôn giáo, như là chìa khoá để mở ra những cánh cửa để tìm kiếm sự khôn ngoan. Linh mục Trần Đình Nhi đã diễn đạt ý tưởng này trong một trang web có tên là http:// www.simonhoadalat.com:

"Những nền văn hóa Đông phương đều lo tìm kiếm sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan này nhằm mục đích thực tế là giúp con người cư xử thận trọng và khôn khéo để thành công trên đời. Điều đó bao hàm một suy tư về thế giới và cũng đưa đến một khởi thảo một nền luân lý, để rồi không thể thiếu liên lạc với tôn giáo. Vào thế kỷ VI ở Hy lạp, niềm suy tư nặng phần lý thuyết nên khôn ngoan biến thành triết lý. Như vậy bên cạnh một khoa học vừa phôi thai và những kỹ thuật đang phát triển, khôn ngoan là một yếu tố quan trọng của nền văn minh."

Sự khôn ngoan không thể thiếu vắng trong mọi lãnh vực của đời sống; bởi vì bản chất của con người khác với động vật. Ngoài những bản năng xác thịt trong sự sinh tồn, con người còn có một đời sống tinh thần như: trí tuệ, ý chí, tình cảm.Và, cao hơn nữa là đời sống tâm linh, con người có khả năng tương giao với Đức Chúa Trời. Con người không thể sống mà không cần đến sự khôn ngoan. Như vậy, sự khôn ngoan là gì? " Khôn ngoan là nghệ thuật sống, nó tìm tòi những gì đưa tới sự sống chứ không dẫn đến sự chết. Nó là suy tư về những vấn đề lớn của con người như sống, chết, yêu thương, đau khổ, sự dữ, tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân, cuộc sống xã hội. Khôn ngoan có tính phổ quát và vượt thời gian. Đau khổ, sống, chết, yêu thương không có biên giới...Nguồn cội của sự khôn ngoan chính là Đức Chúa Trời."

1. Không cậy sự khôn ngoan của thế gian

Kinh Thánh dạy dỗ rất nhiều về sự khôn ngoan, đặc biệt là sách Châm- ngôn: " Sự kính sợ Đức Giê-hô-va khởi đầu sự tri thức. "Còn kẻ ngu muội khinh bỉ sự khôn ngoan và lời khuyên dạy. " Mở đầu chương sách, ngay tromg câu 7, Sa-lô-môn đã đề cập và nhấn mạnh đến giá trị của sự khôn ngoan đến từ Đức Giê-hô-va. Theo tác giả, khởi đầu của sự khôn ngoan, bắt nguồn từ lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể hiểu cách khác, một khi con người kính sợ Đức Chúa Trời, thì con người đó sẽ có được khôn ngoan. Trong dân gian đã có câu tục ngữ rằng:"Trước không có ai khôn như Sa-lô-môn, và sau cũng chẳng có ai khôn bằng vị vua này."

Vua Sa-lô-môn, con trai của Đa-vít đã cầu xin Đức Chúa Trời ban cho ông sự khôn ngoan. Đó là điều ưu tiên mà vị vua này đã cầu khẩn với Chúa, vì ông cho rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới là Đấng:

"Khiến cho người ta hiểu biết sự khôn ngoan và điều khuyên dạy, cùng phân biệt các lời thông sáng; để nhận lãnh điều dạy dỗ theo sự khôn ngoan, sự công bình, lý đoán và sự chánh trực."(Châm-ngôn 1:1-3).

Vua Sa-lô-môn không trông cậy sự khôn ngoan của loài người, ông cũng không ưu tiên cầu xin Chúa ban cho ông sự sang giàu hay của cải vật chất; nhưng ông tìm kiếm sự khôn ngoan của Đấng toàn năng trước hết. Ông đã khẳng định giá trị sự khôn ngoan trước hết là sự sự kính sợ Đức Chúa Trời, rồi sau đó Ngài sẽ ban cho những điều ích lợi:

"Hỡi con, nếu con tiếp nhận lời ta, dành giữ mạng lịnh ta nơi lòng con, để lắng tai nghe sự khôn ngoan, và chuyên lòng con về sự thông sáng. Nếu con tìm nó như tìm bạc, và kiếm nó như bửu vật ẩn bí, Bây giờ con sẽ hiểu biết sự kính sợ Đức Giê-hô-va; và tìm được điều tri thức của Đức Chúa Trời"(Châm 2:1,2,4-5).

Tuy nhiên, phải chăng vua Sa-lô-môn đã theo đuổi mục đích ban đầu, mà ông đã dành cho Đức Giê-hô-va? Không, ông đã không làm được điều tốt đẹp đó, vì ông đã không còn nghe theo tiếng của Đức Thánh Linh, cho nên đã quay lưng lại với tình yêu ban đầu mà ông đã dành cho Chúa. Ông nghe theo lời quyến dụ của những kẻ ác, góp phần trong sự thờ lạy thần tượng, đó là điều gớm ghiếc cho Đức Chúa Trời. Nhận xét về phẩm hạnh đáng buồn này, Giáo sư Phạm Hoàng đã viết:

"Vua sa-lô-môn, một con người với một mục đích lớn lao trong buổi ban đầu cuộc đời mình, nhưng lại đánh mất sự tập trung và mục đích vào cuối đời. Khi mới lên làm vua, Sa-lô-môn rất yêu mến Đức Giê-hô-va. Nhằm tôn vinh Đức Chúa Trời, ông xây một ngôi đền thờ to lớn bằng vàng, bạc, đồng và những cây gỗ và các phiến đá tốt nhất, sử dụng hàng ngàn nhân công trong bảy năm mới hoàn thành. Sa-lô-môn là vua người Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm. Đất nước ông rất thịnh vượng. Tuy nhiên, mục đích đời ông đã không được kéo dài cho đến hết cuộc đời. Ông đã cưới các công Chúa ngoại bang thờ tà thần. Các người vợ của Sa-lô-môn đã mang các thần tượng của họ vào xứ Y-sơ-ra-ên và khiến cho người Y-sa-ra-ên lìa bỏ Đức Chúa Trời để thờ thần tượng trong khắp cả xứ. Sa-lô-môn dường như nhanh chóng quên đi Đức Chúa Trời đã ban cho ông nhiều thể nào. Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Sa-lô-môn bởi lòng ông đã quay khỏi Ngài. Ngài đã tức giận và phán cùng ông:

"Bởi vì ngươi đã làm điều này, không giữ giao ước và luật pháp ta truyền cho ngươi, nên ta chắc sẽ đoạt lấy nước khỏi ngươi, cho kẻ tôi tớ ngươi. Song vì cớ Đa-vít cha ngươi, ta sẽ chẳng làm điều đó trong đời ngươi. Ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay con trai ngươi. Lại ta sẽ chẳng đoạt lấy cả nước khỏi nó. Song vì cớ Đa-vít, đầy tớ ta, và vì cớ Giê-ru-sa-lem mà ta đã chọn."

Người chăn bầy khi đã xác quyết mục đích và đã kết ước với Đức Chúa Trời, thì không thể nào cậy sức của bản thân để hoàn thành các mục đích đã đề ra. Bản thân con người ai cũng yếu đuối, rất dễ bị cám dỗ bởi danh vọng, tiền bạc, và nhất là đàn bà. Để có thể thực hiện được lời giao ước với Đức Chúa Trời, người lãnh đạo thuộc linh cần có một đời sống nhờ cậy Chúa thường xuyên qua sự cầu nguyện.  Chính mối tâm giao riêng tư này, Thần của Đức Chúa Trời sẽ làm chủ những tư tưởng, lời nói và hành động của người chăn.

Có những lúc, vì một lý do nào đó, người chăn bầy sẽ không để cho Đức Thánh Linh điều hướng quyết định và công việc của mình, mà lại sử dụng sự khôn ngoan của riêng mình, và hậu quả dẫn đến những thất bại cay đắng. Trong hiện thực của tình trạng Hội Thánh ngày nay, vấn nạn trên xảy ra cũng không phải là hiếm hoi. Cho nên có nhiều nhà thờ lại phải bán đi, nhường chỗ cho người ta thờ thần tượng của những đạo giáo khác! Như vậy, chúng ta không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh này, hay lý do nọ để bảo vệ cho sự thiếu khôn ngoan thiên thượng, mà người chăn bầy đã cầu xin Chúa từ buổi đầu. Sự thất bại thường đến bởi lòng kiêu ngạo của bản ngã chỗi dậy; khi những thành công chồng chất lên thành công. Cũng từ đó, người chăn bầy đánh mất đi sự khiêm nhường và bắt đầu một cuộc rượt đuổi theo danh vọng. Chính vì lẽ đó, trong phước lành sẽ cặp theo sự rủa sả. Kinh Thánh chép:

"Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban cho ngươi sự trổi hơn mọi dân trên đất. Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, này là mọi phước lành sẽ giáng xuống trên mình ngươi:

Ngươi sẽ được phước trong thành, và được phước ngoài đồng ruộng, bông trái của thân thể ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, sản vật của sanh súc ngươi, luôn với lứa đẻ của bò cái và chiên cái ngươi đều sẽ được phước...Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật pháp của Ngài mà ta đã truyền cho ngươi ngày nay, thì này là mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên mình ngươi va theo kịp ngươi"(Phục Truyền 28: 1-5; 15).

Tôn chỉ của văn chương khôn ngoan trong Cựu Ước, cho rằng người khôn ngoan là người thông minh, chăm chỉ và siêng năng (Châm ngôn 6:6). Trong Tân Ước, thơ Gia- cơ là một áng văn khôn ngoan của Kinh Thánh vì cũng lấy sự quan sát trong cõi thiên nhiên (1:11; 3:3-6, 11,12; 5:7). Những quan điểm về sự khôn ngoan này, đối với thế gian cũng có một số điểm tương tự; nhưng người chăn bầy cho Đức Chúa Trời, lấy sự khôn ngoan được chép trong Kinh Thánh, làm mẫu mực cho việc hành xử của mình. Cái khôn ngoan của thế gian hướng về bản ngã, làm cho cái tôi được nổi bật và hành xử theo luân lý, đạo đức, triết học, giáo dục, khoa học, vv... cùng với kinh nghiệm của người xưa. Người chăn bầy, hướng về Đức Chúa Trời để cầu xin sự dẫn dắt của Ngài trong đời sống của bản thân, cũng như cách cư xử với tha nhân. 

Một lần nữa, trở về với vua Sa-lô-môn và câu chuyện xử kiện, để minh chứng cho một vị vua biết nhờ cậy sự khôn ngoan thiên thượng. Sa-lô-môn là vị quân vương xuất sắc của Vương quốc Y-sơ-ra-ên. Thời kỳ của ông được coi là thời đại hoàng kim, vì Y-sơ-ra-ên thống nhất trong lịch sữ Do Thái. Những người đương thời rất thán phục trí tuệ sắc sảo, các phán đoán độc đáo và sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn (1CácVua 3:16-28).

Đó là sự khôn ngoan phi thường, vì Đức Chúa Trời đã ban cho vua Sa-lô-môn sự khôn ngoan, thông sáng. Người chăn bầy của Chúa ngày nay, vẫn có thể có được sự khôn ngoan trong nhiều cách trong "sự đối nhân xử thế." Chẳng những vậy, mà còn được mặc lấy sự thông sáng trong mọi vấn đề thuộc linh khi phục sự Ngài. Người chăn bầy luôn cảm biết sự yếu đuối, dốt nát trước quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời, biết hạ mình xuống để cầu xin sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh; đó chính là đầy tớ của Chúa biết lắng nghe theo sự dạy dỗ của Ngài, là người chăn không nhờ cậy thế gian, mà nhờ cậy Chúa.

"Việc toan liệu của lòng thuộc về loài người; Còn sự đáp lời của lưỡi do Đức Giê-hô-va mà đến" (Châm-ngôn 16:1).

2. Tìm kiếm sự khôn ngoan Thiên thượng

 "Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống; và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va nhưng ai phạm đến ta, làm hại cho linh hồn mình; còn kẻ nào ghét ta, ắt ưa thích sự chết" (Châm-ngôn 8: 35).

Có lẽ hầu hết chúng ta ai cũng phải công nhận giá trị của sự khôn ngoan; nhưng câu hỏi đặt ra ở đây, là tìm kiếm ở đâu và bằng cách nào? Người thế gian tìm kiếm sự khôn ngoan từ kinh nghiệm của những vĩ nhân, tư tưởng gia, hay các bậc hiền triết như Khổng Tử, Lão tử, hoặc các sách báo về nghệ thuật đối nhân xử thế. Câu chuyện "Bữa cơm của Khổng Tử" sau đây là một trong những minh chứng về sự khôn ngoan của thế gian:

"Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử. Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng. May  mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi, một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất, phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất. Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ. Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh rồi từ từ đưa cơm lên miệng. Khổng Tử thở dài… ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ. Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên: tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm. Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước. Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: Dạ thưa thầy, nên ạ!

Khổng Tử lại nói: Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.

Khổng Tử hỏi: Tại sao?

Nhan Hồi thưa: Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra định vất đi nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình chung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em.

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi. Bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ! Nghe Nhan Hồi nói xong. Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ." 

Kết luận của câu chuyện được rút ra một bài học về sự khôn ngoan:

Muốn hiểu biết tường tận một vấn đề gì, cần phải là người trong cuộc. Sự khôn ngoan mà người thế gian tìm được trong câu chuyện trên, chứa đựng ý nghĩa sâu xa về nhiều phương diện. Thứ nhất, nói lên bản chất của con người thường hay nghi ngờ. Thứ nhì, theo văn hoá của Đông Phương, ảnh hưởng sâu đậm của Nho Giáo, học trò luôn kính trọng những bậc thầy của mình trong tinh thần "Quân, Sư, Phụ." Bài học thứ ba ở đây, dạy cho con người không nên hồ đồ, "suy bụng ta ra bụng người", hoặc " lấy bụng của kẻ tiểu nhân mà xét lòng quân tử." Khổng Tử là bậc hiền triết, khôn ngoan và thông thái, mà có lúc cũng mắc phải sai lầm khi xét đoán con người theo những suy nghĩ chủ quan của mình; huống hồ chi là kẻ tiện dân ít học!

Trong sách Đắc Nhân Tâm (Được lòng người), tên tiếng Anh là "How to Win Friends and Influence People " do Dale Carnegie viết, được xuất bản lần đầu vào năm 1936; đã bán được 15 triệu bản trên khắp thế giới. Nó cũng là quyển sách bán chạy nhất của New-York Times trong 10 năm. Tác giả đưa ra các lời khuyên về những quy tắc ứng xử, trình bày sự khéo léo, tế nhị trong những mối giao tiếp giữa con người trong xã hội; với mục đích là chinh phục được lòng người để đạt sự thành công trong các mối quan hệ. Đồng thời, cũng dẫn dụ con người học biết sự khôn ngoan từ những kinh nghiệm từng trải trong cuộc sống.

Chúng ta nhận thấy người thế gian vẫn nhận thức được giá trị của sự khôn ngoan. Tác giả là người lão luyện, đã từng trải trên thương trường, và có lẽ là một nhà ngoại giao tài năng. Nhưng, có một điều cần chú ý quan trọng ở đây: Kiến thức về sự khôn ngoan được tích lũy này, đến từ trí khôn của loài người, hoàn toàn khác hẳn sự khôn ngoan đến từ sự dạy dỗ của Kinh Thánh.

Trái lại, người chăn bầy của Đức Chúa Trời tìm kiếm sự khôn ngoan từ lời của Chúa qua Kinh Thánh. Để được Chúa hướng dẫn trong cách sống, và làm trọn chức vụ đối với Hội Thánh của Ngài, người chăn bầy phải có mối tương giao riêng tư và mật thiết với Chúa mỗi ngày qua sự cầu nguyện. Bên cạnh đó, người chăn bầy phải suy gẫm lời Chúa cách sâu nhiệm, để tìm hiểu cho biết được ý định của Chúa trên đời sống của mình, học biết cách lắng nghe tiếng Chúa bởi sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh; để nhận lấy uy quyền từ nơi Chúa. Trong sách bảy định luật của người lãnh đạo thuộc linh, có đoạn viết:

"Thượng đế cũng xác định các cấp bậc của uy quyền đang hiện hữu trong xã hội. Đức Chúa Trời đã ban đặc quyền cho Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu (Giăng 17: 2). Uy quyền của Chúa Cứu Thế ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực của đời sống chúng ta. Trong hôn nhân Chúa Cứu Thế là đầu của tất cả những người làm chồng, còn người chồng là đầu của vợ mình.  Trong Hội Thánh Chúa Cứu Thế là đầu. Trong việc kinh doanh, các chủ nhân được nhắc nhở về Ông chủ của họ trên thiên đàng (Ê-phê-sô 6:9). Uy quyền của Thượng Đế đã được diễn tả rất rõ ràng trong các trang viết của Thánh Kinh, khiến bộ sách đó trở thành quyển sách chỉ dẫn số một về uy quyền."

Theo website http://www.Biblestudytools.com thì cho rằng: "Sự khôn ngoan là một cách nhìn và tiếp cận cuộc sống, trong đó có liên quan đến sự hướng dẫn các người trẻ trong cách cư xử đúng đắn và đạo đức, cũng như trả lời các câu hỏi triết học về ý nghĩa của cuộc sống”.

Trong Cựu Ước, khôn ngoan là nghệ thuật lành nghề và nghệ nhân. Ở mức độ thứ hai, sự khôn ngoan là cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và cách đối phó những vấn đề của nó. Sa-lô-môn đã được kết hợp ý nghĩa trong sự khôn ngoan này (1Các vua 3: 1-5); 4: 32-34). Mặc dù thuật ngữ được sử dụng là "sự hiểu biết" thường xảy ra như một từ đồng nghĩa của "sự khôn ngoan." Ở mức độ thứ tư, các từ ngữ "trí tuệ" và "khôn ngoan" áp dụng cho những người đàn ông và phụ nữ đại diện cách suy nghĩ và hành vi có trật tự, nhạy cảm về xã hội, ngay thẳng về mặt đạo đức. Như vậy, lực đẩy chính của sự khôn ngoan trong Cựu Ước là một quy tắc ứng xử đạo đức. Điều này thể hiện đặc biệt qua sách Châm ngôn. Nó cung cấp hướng dẫn về hành vi cá nhân từ cách kỷ luật trẻ em (22:6) đến "luật vàng" đối với người hàng xóm (24:29). Mục đích của sự khôn ngoan là để xây dựng một xã hội có trật tự và chức năng phản ảnh các yêu cầu đạo đức của Đức Chúa Trời, như được quy định trong luật pháp của Môi-se (Châm-ngôn 21:1, 2).

Mặc dù văn chương khôn ngoan không nhấn mạnh về luật Môi-se như là một quy tắc. Các mệnh đề đạo đức của pháp luật nhấn mạnh quy tắc của văn chương khôn ngoan, đặc biệt là hai sách Châm ngôn và Truyền đạo; chỉ ngụ ý trong phần chính của cuốn sách là kính sợ Đức Chúa Trời và giữ điều răn của Ngài; vì đây là làm trọn phận sự của ngươi (12:13). Một số sách được biết dưới tên "Văn chương khôn ngoan" như Gióp, Thi-thiên, Châm-ngôn, Truyền-đạo. Nhưng chúng ta có thể nói rằng Kinh Thánh dạy con người sống khôn ngoan. Kinh luật của Chúa là toàn hảo, cứu rỗi linh hồn. Lời chứng của Chúa là chắc chắn; khiến người trẻ dại trở thành khôn ngoan (Thi-thiên 19:7). Điều kiện để được khôn ngoan là: "Sự kính sợ Đức Chúa Trời là khởi đầu của sự tri thức."(Châm ngôn 1:7).

Vậy thì, Kinh Thánh chính là nơi và nguồn của sự khôn ngoan, mà người chăn bầy cho Đức Chúa Trời tìm kiếm và nương dựa. Thông thường trong cuộc sống thế gian, người ta thường tìm kiếm những kiến thức của thương trường, chính trị, đối nhân xử thế của người xưa hay đắc nhân tâm của khoa tâm lý học, hoặc nghiên cứu những mánh khóe, thủ đoạn của trí khôn loài người để đạt lấy sự thành công, như phần trình bày ở trên. Người chăn bầy không thể và không bao giờ tìm kiếm những thứ mà người thế gian tìm kiếm để lãnh đạo Hội Thánh của Chúa.

Người chăn bầy đã được Đức Chúa Trời kêu gọi và biệt riêng ra để phục sự Ngài. Tất nhiên, Đức Chúa Trời sẽ tôi luyện những con người đó theo chương trình, kế hoạch của Ngài.  Dó đó, tôi tớ không thể không vâng theo tiếng của người chủ mình. Môi-se khi dẫn dắt dân Y-sa-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ông đã không nghe theo tiếng phàn nàn họ, nhưng nghe theo mệnh lệnh và dấu chỉ của Đức Chúa Trời.

Giả sử Môi-se đã không vâng theo tiếng của Chúa, thì liệu Đức Chúa Trời có đồng hành với dân Y-sơ-ra-ên qua trụ mây và đám lửa hay không? Nếu Môi-se chống nghịch lại mạng lịnh Chúa, thì liệu Ngài có ban cho ông quyền phép khi:

"Môi-se giơ tay ra trên biển, Đức Giê-hô-va dẫn trận gió đông thổi mạnh đến đùa biển trọn cả đêm; Ngài làm cho biển bày ra khô, nước phân rẽ. Dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, đi như trên đất cạn; còn nước làm thành một tấm vách, ngăn bên hữu và bên tả" (Xuất 14: 21, 22).

Câu hỏi này, được giải đáp qua sự kiện xảy ra tại đồng vắng Sin (Xuất 16:1); khi dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm. Và, Môi-se đã không vâng theo lệnh của Chúa:

"Vả, không có nước cho hội chúng uống; chúng bèn dấy loạn cùng Môi-se và A-rôn... Vậy Môi-se cầm lấy cây gậy ở trước mặt Đức Giê-hô-va, như Ngài đã phán dặn. Môi-se và A-rôn truyền nhóm hội chúng đến trước hòn đá mà nói rằng: Hỡi dân phản nghịch! hãy nghe, chúng ta há dễ khiến nước chảy từ hòn đá này ra cho các ngươi được sao? Môi-se giơ tay lên, đập hòn đá hai lần bằng cây gậy mình, nước bèn chảy tràn ra nhiều, hội chúng uống và sức vật họ uống nữa.Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi- se và A-rôn rằng:"Bởi vì hai ngươi không có tin đến ta, đặng tôn ta nên thánh trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, vì cớ đó, hai ngươi sẽ không đem hội chúng này vào xứ mà ta đã cho nó đâu"(Dân số ký 20: 2-12).

Hậu quả mà Môi-se nhận lãnh, từ sự không vâng phục Đức Chúa Trời, đó là ông không được vào đất hứa như lời Đức Giê-hô-va đã phán: Đó là xứ mà Ta đã thề, ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp mà rằng: Ta sẽ ban xứ ấy cho dòng giống ngươi. Ta cho tự mắt ngươi xem thấy xứ ấy, nhưng ngươi không được vào đó được"(Phục truyền 34: 4).

Đáng tiếc thay cho Môi-se, vị lãnh đạo được Đức Chúa Trời ban cho những quyền phép lạ lùng, mà ít có tôi tớ Chúa nào được nhận lãnh cách dư dật như vậy; cuối cùng không được vào đất hứa, chỉ vì sự bất tuân theo mạng lịnh Chúa.

Tìm kiếm sự khôn ngoan của Chúa, mà lại không nghe theo lời của Ngài, hoặc chỉ nghe theo một số điều nào đó; hoặc nghe theo Ngài một nửa, nửa còn lại nghe theo sự khôn ngoan của thế gian, thì cái kết thật đáng buồn! Xưa kia, Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên, là "dân cứng cổ:""Khá giữ lấy mình, kẻo ngươi quên Đức Giê-hô-va là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô." (Phục truyền 6: 12). Lời của Chúa vẫn luôn ích lợi cho con cái Chúa nói chung, và cần thiết cho những người được Chúa giao trách nhiệm chăn bầy nói riêng.

Người chăn bầy không thể thiếu, một trong những phẩm hạnh vô cùng quan trọng đó là: Sự trông đợi khôn ngoan đến từ Chúa, cùng sự vâng lời Ngài cách tuyệt đối; không bao giờ trông đợi vào sự khôn ngoan của con người: "Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi"(Phục Truyền 6: 5).

3. Vâng phục sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh

"Môi-se tôi tớ Ta, đã chết; bây giờ ngươi và cả dân sự này hãy đứng dậy đi qua sông Giô-đanh, đặng vào xứ mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên...Ta sẽ ở cùng ngươi như Ta đã ở cùng Môi-se"(Giô-suê 1: 2,5).

Trước hết cần phải hiểu Đức Thánh Linh là ai? Ngôi vị của Ngài như thế nào trong Ba Ngôi của Đức Chúa Trời, và công việc của Ngài là gì? Theo Millard J. Erickson trong tác phẩm "Thần Học Cơ Đốc Giáo" cho rằng:"Đức Thánh Linh là một với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Công việc của Ngài là bày tỏ và thực thi những gì mà Ba Ngôi đã cùng nhau hoạch định. Không có gì mâu thuẫn giữa Ba Ngôi cũng như giữa hoạt động của Ba Ngôi. Đức Chúa Trời không phải đang ở cách xa. Qua Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời Ba Ngôi gần đến mức thật sự bước vào lòng của mỗi tín hữu. Thậm chí giờ đây Ngài còn gàn gũi với chúng ta hơn cả khi Ngài hoá thân thành người. Qua công tác của Đức Thánh Linh, Ngài đã thật sự trở thành Đấng Em-ma-nu-ên, "Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta."

Từ định nghĩa trên, chúng ta thử nhìn lại nhân vật Môi-se, là tôi tớ của Đức Chúa Trời, Ngài đã chọn lựa ông để dẫn dắt dân sự của Chúa, ra khỏi xứ nô lệ Ê-díp-tô để vào đất hứa. Sau khi Môi-se qua đời, Đức Chúa Trời đã có kế hoạch như thế nào, để hoàn hành lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham, Gia-cốp và Giô-sép qua Đức Thánh Linh.

Theo cách nhìn của con người, chúng ta sẽ lầm tưởng rằng khó ai có thể thay thế trách nhiệm, dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên vào đất hứa sau khi Môi-se qua đời. Nhưng kỳ thật, đối với Đức Chúa Trời không có gì để phải hốt hoảng, lo lắng như bản chất yếu đuối của con người. Ngài đã chuẩn bị sẵn nhân vật lãnh đạo khác là Giô-suê, con trai của Nun, tôi tớ của Môi-se. Đức Giê-hô-va phán:

"Chỉ hãy vững lòng bền chí, và cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ ta đã truyền cho ngươi; chớ xây qua bên hữu hoặc bên tả, để hễ ngươi đi đâu cũng đều được thịnh vượng" (Giô-suê 1: 7).

Tấm gương về sự trông cậy và vâng phục của Giô-suê ở đây, cho những người lãnh đạo thuộc linh hôm nay một bài học quý giá trong sự hầu việc và phục vụ Chúa. Giô-suê đã tuyệt đối tin cậy vào lời phán hứa của Đức Chúa Trời. Ông đã làm theo y như lời dặn dò của Chúa:

"Ngày nay ta khởi tôn ngươi lên trước mặt cả Y-sơ-ra-ên, để chúng nó biết rằng ta sẽ ở cùng ngươi, như ta đã ở cùng Môi-se vậy. Ngươi phải truyền lịnh này cho các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước: Khi nào các ngươi đến mé sông Giô-đanh, thì hãy dừng lại tại giữa sông"(Giô-suê 3: 7-8).

Giô-suê đã vâng theo lời Chúa, truyền cho dân sự làm theo đúng những điều mà Đức Chúa Trời đã phán bảo ông. Chính vì vậy, Đức Chúa Trời đã làm cho:

“Thì nước ở trên nguồn thường chảy xuống bèn dừng lại, dồn thành một đống. Những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 3:16).

Bí quyết thành công của Giô-suê trong sự lãnh đạo, là tuyệt đối vâng phục mệnh lệnh của Đức Chúa Trời nên ông đã khiêng cho dân Y-sơ-ra-ên nghe theo; khi họ chứng kiến đều lạ lùng là "nước sông Giô-đanh sẽ chia thành từng đống." Người chăn bầy cho Chúa hôm nay, liệu có vâng phục Đức Chúa Trời hoàn toàn hay không? 

Trên nguồn thường chảy xuống bèn dừng lại. Hội Thánh của Đức Chúa Trời hôm nay, đang sống trong một thế giới đầy nhiễu nhương và hỗn loạn. Nó cũng chẳng khác gì "nước sông Giô-đanh đến mùa gặt lại tràn bờ." Sự tiến bộ vượt bực của kỹ thuật truyền thông đến mức chóng mặt, với sự ra đời của máy tính điện tử chuyển tải các nguồn thông tin trong nháy mắt. Bên cạnh đó, sự ra đời của hệ thống "máy định vị" được cài đặt cho các loại xe hơi để dẫn đường. Rồi thì, các "models" của phone cầm tay cũng không ngừng phát triển. Với chiếc "smart phone" (điện thoại thông minh), chúng ta có thể sử dụng nó chẳng khác gì một máy vi tính cầm tay (laptop).

Tuy nhiên, kỹ thuật càng phát triển, thì lại càng vô cùng nguy hiểm cho xã hôi loài người, nhất là thế hệ trẻ hôm nay. Nó cũng giống như con dao hai lưỡi, có thể làm đứt tay chảy máu bất cứ lúc nào! Thế giới loài người đang bị chảy máu bởi hận thù, tình dục vô luân, phim ảnh kích động đánh nhau, ôm bom mìn đi chém giết, vv. Người chăn bầy của Đức Chúa Trời phải nhạy bén nhận ra, đây là kế hoạch của Sa-tan.

Kinh Thánh bày tỏ cho biết các thần dữ đang vận hành chốn không trung, và đang sử dụng quyền lực của nó; lợi dụng sự phát triển của khoa học kỹ thuật, để đưa con loài người đến bên hồ lửa. Bằng chứng ngày nay cho thấy, tại đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn. Con người đang xa rời dần với đức tin ban đầu từ khi lập quốc. Mười điều răn của Chúa bị đẩy dần ra khỏi ngưỡng cửa học đường. Lớp trẻ không còn say mê đi thờ phượng Chúa vào những ngày yên nghỉ Thánh. Nhiều Hội Thánh Mỹ, chỉ còn lại lớp người già nua ít ỏi, ngồi trong nhà thờ với đôi mắt trĩu nặng và xa xăm...

Là những người được giao cho nhiệm mạng chăn bầy, các bạn và chính tôi phải làm gi cho Hội Thánh Chúa hôm nay? Chúng ta có noi gương Giô-suê, để mạnh dạn truyền đi mệnh lệnh của Đức Chúa Trời cho dân Chúa, cách trung thực hay không? Chúng ta có mong chờ và tin cậy rằng, lời của Đức Chúa Trời sẽ đẫy lùi tất cả những đám mây u ám để trả lại bầu trời trong sạch cho Ngài hay không? Chúng ta có luôn luôn tìm kiếm sự dắt dẫn của Đức Thánh Linh; để dẫn đưa dân sự của Chúa được bước vào cổng thiên đàng hay không?

Đâu là chìa khóa để làm cho nước sông Giô-đanh trở nên khô cạn, và dân sự của Chúa có thể bước đi ung dung giữa đất khô? Chính là sự nhờ cậy vào sự khôn ngoan của Thánh Linh Đức Chúa Trời, và tuyệt đối vâng theo mệnh lệnh của Ngài. Đó là phẩm hạnh mà người chăn bầy không thể thiếu. Câu hỏi đặt ra ở đây, làm thế nào nhận được sự khôn ngoan từ Đức Thánh Linh? Theo kinh nghiệm của một đầy tớ của Chúa, Mục sư Phạm Hữu Nhiên khuyến khích:

"Muốn có được sự khôn ngoan, Mục sư cần phải học hỏi. Học hỏi ở đây là học hỏi suốt đời, học hỏi không chỉ qua sách vở, qua Kinh Thánh mà thôi, mà còn qua sự cầu nguyện, qua thử thách, qua kinh nghiệm bản thân, cũng như qua gương kinh nghiệm và lời khuyên của người khác.  Mục sư cần có thói quen đọc sách, chuyện trò trao đổi kinh nghiệm với những người khác thường xuyên. Mục sư nên bắt lấy cơ hội học hỏi qua các khóa huấn luyện, hội thảo, vv. Trên hết Mục sư cần đọc và suy gẫm lời của Chúa, cần tương giao mật thiết với Chúa. Chính lời Chúa và Thánh Linh là nguồn khôn ngoan sẽ dẫn dắt Mục sư theo sự khôn ngoan thiên thượng."

Đấng thành lập Hội Thánh chính là Chúa Jesus. Ngài là đầu và là chủ của Hội Thánh.  Chính Đức Thánh Linh, vận hành trong đời sống của những kẻ mà Ngài chọn lựa, có trách nhiệm dẫn dắt con dân Chúa theo đường lối của Đức Chúa Trời: "Vả, Đức Chúa Trời bởi quyền lực cảm động trong chúng ta, có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng. Nguyền Ngài được vinh hiển trong Hội Thánh, và trong Đức Chúa Jesus Christ, trải các thời đại, đời đời vô cùng! Amen" (Ê-phê-sô 3 20, 21).

Căn cứ vào lời của Chúa, không một đoàn thể hay cá nhân nào có đủ tư cách "cai trị" Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trên thực tế cũng có một số Hội Thánh ngày nay bị chi phối bởi một số người có quyền thế ngoài đời. Họ đã lạm dụng tiền bạc, trí thức của cá nhân hoặc của nhóm người, điều hành Hội Thánh theo đường lối riêng của con người. Họ thành lập Ban Quản trị, cộng với các thành viên của Ban Chấp hành; rồi bầu ra những chức danh như: Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Trưởng ban Chấp hành, v.v... Đa phần là những người có quyền thế ngoài đời, hoặc ở trong Hội Thánh lâu năm, nhưng vẫn là con đỏ của đức tin. Họ quyết định mọi việc của Hội Thánh theo cách biểu quyết giơ tay, hoặc bỏ phiếu kín. Họ bất chấp lời của Chúa, và có khi cũng làm bộ cầu nguyện theo nghi thức bề ngoài!

Vai trò của người chăn bầy trở nên vô nghĩa, chẳng khác gì tấm bình phong, để che chắn cho một đám người mặc áo tôn giáo làm loạn lạc Hội Thánh. Họ kết bè, kết đảng với nhau làm những chủ nhân ông của Hội Thánh. Các Mục sư vì nhiều lý do khác nhau, đành phải cúi đầu cam chịu; mặc cho những kẻ gian tà biến Hội Thánh của Chúa trở thành những cộng đồng xã hội; hoặc những câu lạc bộ "nói chuyện tình yêu thương" trên môi mép.

Để người chăn bầy có thể thực hiện được thiên chức của mình, trước sứ mạng của Đức Chúa Trời giao phó; người ấy phải đầy dẫy Đức Thánh Linh, và được bao phủ trong sự dẫn dắt của Ngài, phải có uy quyền của Chúa; và trách nhiệm của một người lãnh đạo thuôc linh đúng nghĩa. Hội Thánh của Đức Chúa Trời không thể trao vào những bàn tay lông lá của những kẻ phàm tục. Họ không có đủ tư cách về đạo đức, cũng như các phẩm tính cần thiết của một đầy tớ của Chúa. Người đó phải được Đức Chúa Trời chọn lựa. Bàn về vấn đề này, tác giả J.Oswald Sanders đã giài bày trong sách "Lãnh Đạo Thuộc Linh" như sau:

"Đức Thánh Linh không điều khiển nào đi ngược với ý muốn của họ. Khi những người thiếu sự thích hợp thuộc linh để hợp tác với Ngài được tuyển chọn vào vị trí lãnh đạo, thì Ngài âm thầm rút lui, và để cho họ hoàn thành đường lối riêng của họ, theo tiêu chuẩn của họ, mà không có sự giúp đỡ của Ngài. Kết quả không thể tránh khỏi là nó trở thành một sự quản trị không thuộc linh...Sách công vụ Các Sứ Đồ đã minh chứng rõ ràng, những người lãnh đạo có ảnh hưởng thật đầy ý nghĩa trong hoạt động Cơ-đốc là những người đầy dẫy Đức Thánh Linh. Kinh Thánh đã tường trình về Đấng đã truyền dặn các môn đồ của Ngài cứ ở trong thành Giê-ru-sa-lem cho đên khi họ được mặc lấy quyền phép từ trên cao bằng chính Thánh Linh và quyền phép (Công vụ 10: 38). Một trăm hai mươi người tại phòng cao đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh( Công vụ 2:4). Phi-e-rơ được đầy dẫy Đức Thánh Linh khi ông nói trước Toà Công Luận (Công vụ 4: 8). Trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh, Phao Lô đã khởi đầu và hoàn tất chức vụ độc đáo của mình (Công vụ 9:17; 13:9). Ba-na-ba trong đoàn truyền giáo của Phao Lô cũng được đầy dẫy Đức Thánh Linh (Công vụ 11: 24).  Chúng ta phải thật đui mù mới không thấy được điều kiện rõ ràng này của sự lãnh đạo thuộc linh."

Tóm lại, người chăn bầy không thể dẫn dắt bầy chiên của Chúa đi theo ý riêng của mình. Nhưng, trong mọi sự phải vâng theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh; tìm kiếm ý chỉ của Ngài qua mối tương giao thường xuyên; và tuyệt đối vâng phục đường lối của Ngài. Người chăn bầy phải nghe theo ý của chủ. Người chủ chính là Đức Chúa Trời. Hãy nghe lời giảng của Phao Lô cho các Mục sư thành Ê-phê-sô: "Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình" (Công vụ 20: 28).

                                                          MS Peter The Van Le

1100 lượt xem
Các bài trước
DI SẢN 500 NĂM CẢI CHÁNH TIN LÀNH: (17/02/2018)
LÒNG NHÂN TỪ (02/02/2018)
HAI NGƯỜI NHÀ GIÀU (10/01/2018)
Bảy Hội Thánh trong sách Khải Huyền (28/12/2017)
Chúa Jê-sus Giáng Trần (22/12/2017)
NGƯỜI CHĂN CHIÊN VÀ HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (13/12/2017)
NHỮNG VĨ NHÂN CẦU NGUYỆN (30/11/2017)
NGƯƠI KHÔNG HÔN TA (30/11/2017)
MÔ HÌNH HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN THỜI TÂN ƯỚC (14/11/2017)
CHỪNG NÀO SỰ CUỐI CÙNG ĐẾN? (14/11/2017)
Thánh Kinh Trắc Nghiệm 2000  
THÁNH KINH TRẮC NGHIỆM 2000 - Bài 28
 
Tuyển Tập Viết Cho Niềm Tin 2016  
TÔI VẼ NHỮNG GIẤC MƠ
 
Truyện Ngắn & Tùy Bút  
XIN LÀM LỪA CON ĐÊM CHÚA GIÁNG SINH
 
Giới Thiệu Nhạc Thánh Mới  
NÔ-EN ĐÃ ĐẾN RỒI
 
Cùng Suy Gẫm Với Mục Sư Lữ Thành Kiến  
VẼ TRANH GIÁNG SINH
 
Tạ Ơn Chúa  
LỜI CHỨNG CỦA LINH DƯƠNG
 
Kinh Thánh  
KINH THÁNH TÂN ƯỚC: Sách KHẢI HUYỀN
 
Đức Tin  
CÁC NGƯƠI PHẢI SANH LẠI
 
Tin Tức  
LỄ CUNG HIẾN NHÀ THỜ - CHI HỘI TRƯƠNG MINH GIẢNG
 
VHope  
Sứ Điệp: Ơn Trời | Mục sư Phan Vĩnh Cự
 
Thơ & Nhạc  
DANH HIỆU CỨU CHÚA "EMMANUEL"
 
Góc của Ađam & Êva  
Làm Sao Để Tin Tưởng Tấm Lòng Của Chúa Khi Ngài Yên Lặng
 
Phát Thanh Tin Lành Ontario  
PHÁT THANH TIN LÀNH ONTARIO 15/12/2018
 
Kịch Cơ Đốc  
NẾU CHỈ CÒN 1 NGÀY....
 
Nhận Được & Giới Thiệu  
Hành Trình Ðất Thánh NGAY TỪ KHỞI ÐIỂM với MS Hồ Xuân Phước
 
Nghiệm và Sống  
CUỘC ĐUA ĐẾN NAM CỰC
 
Tin Lành Media  
Liên Hội Thánh Tin Lành Giáng Sinh Dallas
 
Thánh Kinh Giải Đáp  
TKGĐ 17 - PHẠM TỘI MÀ KHÔNG SỢ?
 
Tài Liệu  
Mười Bốn Danh Hiệu của Đức Giê-hô-va (Đức Jehovah)
 
Hội Thánh Truyền Giáo Trên Đường Dây  
XƯNG CÔNG CHÍNH BỞI ĐỨC TIN - MS Nguyễn Thới Lai
 
Phút Suy Tư (PowerPoint Slide Show)  
KHI TÔI QUỲ NƠI CHÂN CHÚA
 
Bạn Hữu Âm Nhạc  
CHÚA XUÂN
 
Nhật Ký Truyền Giáo  
MUỐI CỦA ĐẤT
 
Chia Sẻ Phim & Ảnh  
Con Tàu Nô-ê đã tìm thấy và cơn Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh là có thật
 
Cuộc Thi Viết Nhạc Thánh  
CHUNG KẾT CUỘC THI VIẾT NHẠC THÁNH 2015
 
Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn  
THÔNG BÁO MỚI VỀ TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN & NHẠC THÁNH VIẾT CHO NIỀM TIN 2016
 
Hoa Tư Tưởng  
HOA TƯ TƯỞNG 28
 
Hay & Lạ Từ Internet  
Trượt Chân Té Ngã Lúc Tuổi Vàng
 
Website Cơ Đốc  
GIỚI THIỆU WEBSITE CƠ ĐỐC