Vườn ÊĐen Mới | Dưỡng Linh
















TÌNH YÊU THƯƠNG
Ngày 02/08/2018

 MS Peter The Van Le


"Nên bây giờ còn có ba điều này: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương, nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương"(1Cô-rinh-tô 13:13).

Tình yêu thương là phẩm tính cao quý và cần thiết số một của người chăn bầy. Cho dù bạn tài giỏi đến đâu, giảng luận hùng hồn đến đâu, bằng cấp thần học cao đến đâu; nhưng không có phẩm tính này, thì mọi sự bạn có đều trở nên vô nghĩa; và bạn không thể là người chăn bầy được.

1. Yêu thương và chăm sóc bầy chiên

Chiên cần người chăn, cho ăn uống và chăm sóc khi chiên bệnh tật. Con dân Chúa cần những người lãnh đạo thuộc linh, mục sư hay còn gọi là người chăn bầy cung cấp thức ăn thuộc linh. Ngoài ra, bổn phận của người chăn bầy còn phải quan tâm đến nhiều phương diện khác của con cái Chúa, nơi mình quản nhiệm. Hãy suy nghĩ tại sao Chúa Jesus phán với Phi-e-rơ đến ba lần:

"Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jesus phán rằng: "Hãy chăn chiên ta!"(Giăng 21: 15-17)

Là một người chăn bầy của Đức Chúa Trời, không phải được tất cả mọi người đều yêu thương và qúy trọng. Từ bên ngoài thế gian cho đến bên trong Hội Thánh. Dó đó, hơn ai hết, người chăn bầy cần phải hạ mình đến điều, khiêm nhường đến điều mới có thể vượt lên trên những thách thức, để hoàn thành sứ mạng Chúa giao; mà cụ thể nhất là yêu thương mọi người.

a. Phải yêu Chúa trước mới có thể yêu bầy chiên.

Hễ ai gần gũi Chúa thì gần gũi với anh em mình. Người chăn bầy nếu muốn yêu thương được bầy chiên, thì trước hết người chăn bầy phải yêu Chúa một cách chân thành và hết cả tấm lòng. Nếu người chăn bầy chỉ yêu Chúa xa xa, thì khó có thể yêu bầy chiên của Chúa hết lòng được. Trong Hội Thánh Chúa không phải tất cả mọi thành viên đều trưởng thành như nhau. Có thể nói rất nhiều khác biệt từ thành phần xuất thân, giáo dục, kiến thức Kinh Thánh, và mức độ trưởng thành. Bên cạnh đó, là cá tính của mỗi người là một đặc thù không ai giống ai. Chính vì vậy, người chăn bầy cần phải có một thái độ mềm mại, tấm lòng trắc ẩn để cảm thông và một tình yêu thương dồi dào đi kèm với sự khoan dung và độ lượng.

Nếu người chăn bầy vẫn còn sự phân biệt giữa những con cái Chúa, yêu thương theo bản ngã xác thịt; nghĩa là tình yêu có điều kiện, thì chức vụ chăn bầy sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Con cái Chúa không cảm phục và Đức Chúa Trời cũng chẳng vui lòng. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Chúa Jesus đã hỏi Phi-e-rơ đến ba lần: "Ngươi yêu ta chăng?" Và ban mệnh lệnh: "Hãy chăn chiên ta!"Chúng ta có thể nhìn thấy một điều quan trọng: Nếu muốn chăn bầy chiên có kết quả, vui lòng Chúa thì phải yêu Chúa trước hết. Và đã yêu Chúa thì phải chăn bầy chiên cho Chúa. Chăn ở đây là chăm sóc thuộc linh; cung cấp cho bầy chiên đầy đủ thức ăn thuộc linh để lớn lên trong đức tin.

Tất nhiên, yêu thương và chăm sóc người khác không phải là chuyện dễ dàng. Người chăn bầy phải cậy sức của Chúa bởi vì chiên có con cũng khờ khạo, nhưng cũng có những con chiên rất hung dữ. Tín đồ cũng vậy, không phải ai cũng hiền lành nhân đức, dễ yêu hay đáng mến! Vì vậy, muốn yêu thương được họ, người chăn phải hạ mình đến điều, nhịn nhục đến điều và phải trả giá. Là một người chăn bầy của Đức Chúa Trời, không phải được tất cả mọi người đều yêu thương và qúy trọng. Từ bên ngoài thế gian cho đến bên trong Hội Thánh. Dó đó, hơn ai hết, người chăn bầy cần phải luôn học theo gương của Chúa Jesus, mới có thể vượt lên trên những thách thức, để hoàn thành sứ mạng Chúa giao; mà cụ thể nhất là yêu thương mọi người.

"Anh em đã vâng theo lẽ thật làm sạch lòng mình, đặng có lòng yêu thương anh em cách thật thà, nên hãy yêu nhau sốt sắng, hết lòng; anh em đã được lại sanh chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời"(1Phi-e-rơ 1:22,23).

b. Tình yêu của người chăn bầy khác biệt với lãnh đạo thế gian.

Như đã đề cập ở phần giới thiệu, người chăn bầy là người được Đức Chúa Trời lựa chọn và kêu gọi vào chức vụ. Người chăn bầy không đến từ sự kêu gọi của Chúa, thì vô cùng nguy hiểm; vì chức vụ này chẳng khác gi một vị trí lãnh đạo của một hội đoàn hay một tổ chức xã hội. Người lãnh đạo thế gian chỉ cần có kiến thức chuyên môn, bằng cấp đáp ứng nhu cầu, và có uy quyền của thuật lãnh đạo; thì có thể điều hành những cơ quan đoàn thể xã hội, trường học, bệnh viện, chính quyền, v.v...

Môi-se không phải do con người bầu chọn để lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ nô lệ để vào đất hứa Ca-na-an. Nhưng chính Đức Chúa Trời đã kêu gọi, chọn lựa ông; nên Ngài đã đi cùng ông luôn luôn. Nếu Môi-se không được mặc lấy tình yêu thương và tấm lòng trắc ẩn, thì làm sao ông có thể chịu đựng nổi sự lằm bằm chống nghịch của dân Y-sơ-ra-ên!

"Vả không có nước cho hội chúng uống; chúng bèn dấy loạn cùng Môi-se và A-rôn. Dân sự cãi lộn cùng Môi-se mà rằng: Anh em chúng tôi đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va, chớ chi chúng tôi cùng đồng chết luôn thể! Sao người đem hội chúng của Đức Giê-hô-va vào đồng vắng này, làm cho chúng tôi và súc vật chúng tôi phải chết? Sao người khiến chúng tôi đi lên khỏi xứ Ê-dip-tô đặng dẫn đến chỗ độc này, là nơi người ta không gieo mạ được, và chẳng có cây vả, cây nho, cây lựu, và cũng không có nước uống? Môi -se và A-rôn bèn lui khỏi mặt hội chúng, đến trước cửa hội mạc, sấp mặt xuống đất, và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng..."

Qua hình ảnh này, cho chúng ta nhìn thấy rõ tấm lòng kính yêu Chúa của Môi-se và thương mến dân sự của Ngài. Nếu không có những đặc điểm ấy, thì Môi-se cũng như A-rôn không thể nào chịu đựng được sự lằm bằm, nhiếc móc của dân sự mà hai ông đang dẫn dắt họ. Đây là bài học cho những ai đang chăn dắt bầy chiên của Chúa hôm nay. Không phải lúc nào Hội Thánh Chúa cũng đầy đủ mọi sự, "thuận buồm xuôi gió" mãi mãi; nhưng cũng có lúc ba đào sóng gió. Con cái Chúa được dạy rằng có Chúa sẽ có sự bình an và chở che của Đức Chúa Trời. Nhưng, một ngày nào đó, Hội Thánh gặp những thiên tai như động đất, chiến tranh, sự bắt bớ của những kẻ chống đối, con cái Chúa thì gặp phải những hoạn nạn, bệnh tật, vv... thì người chăn bầy chiên vẫn có thể bị phàn nàn, trách móc. Con dân Chúa yếu đức tin, sống theo bản ngã xác thịt yếu đuối, họ sẽ có cớ tấn công đầy tớ của Chúa. 

Chính vì vậy, người chăn bầy cần phải được tôi luyện qua lò lửa thử thách, chống chọi lại bất cứ hiểm nguy nào, và vững vàng trong mọi tình huống, để giữ được một lòng tận trung với Đức Chúa Trời. Trên hết có ba điều mà người chăn bầy phải tâm niệm như lời Thánh Kinh dạy trong Cô-rinh-tô:

"Nên bây giờ còn có ba điều này: Đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương, nhưng điều trọng hơn trong bà điều đó là tình yêu thương"(1Cô-rinh-tô 13: 13).

c. Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương.

Có thể nói rằng một trong những trọng tâm của Kinh Thánh, chính là "tình yêu thương."Vì yêu thương thế gian, yêu thương những con người tội lỗi, nên Đức Chúa Trời đã phó Con một của Ngài làm của lễ chuộc tội cho nhân loại. Và cũng chính vì yêu thương, nên Chúa Jesus đã bằng lòng chịu chết trên thập tự giá để cứu vớt tội nhân. Kinh Thánh đã khẳng định rằng không có điều gì quý hơn là tình yêu thương. Không có hành động đạo đức nào, tài năng hay ân tư nào có thể sánh bằng giá trị của tình yêu thương. Dù vị mục sư hay người lãnh đạo thuộc linh nào có tài giỏi đến đâu, có ân tứ giảng dạy đến đâu, có khả năng hùng biện và thuyết phục người nghe đến đâu, mà không có tình yêu thương thì cũng vô nghĩa, chẳng ích cho cho con dân Chúa!

"Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay chập chỏa vang tiếng.  Dầu tôi được ơn nói tiên tri cùng biết đủ sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết, dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chẳng ra gì. Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương thì điều đó chẳng ích chi cho tôi" (1Côr 13: 1-3).

Đọc những câu Kinh Thánh trên, chúng ta thấy "Tình yêu thương" là cốt lõi của Phúc Âm. Phúc Âm mà không có tình yêu thương thì chẳng khác gì một triết thuyết đạo đức của thế gian. Luật pháp của thế gian có những điều lệ quy định trừng phạt kẻ phạm tội bằng tù đày. Cũng có những quốc gia khe khắt hơn, có nhiều bản án tử hình hoặc chung thân. Còn luật pháp của Chúa là ân điển và sự thương xót. Nếu con người phạm tội mà thật lòng ăn năn từ bỏ, thì vẫn được tha thứ, bởi vì: "Sự ăn năn thống hối, Chúa không khinh dễ đâu."

2. Yêu thương kẻ chống nghịch

 "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi...Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mình, thì có được thưởng gì đâu. Những kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao?" (Ma-thi-ơ 5: 43, 44, 46).

Thông thường người ta yêu kẻ yêu mình và ghét kẻ ghét mình. "Quy luật" của thế gian này hoàn toàn trái ngược với lời dạy của Chúa Jesus. Lời khuyên dạy này rõ ràng nghe như là một nghịch lý. Sự công bình của thế gian là kẻ ác phải bị trừng phạt. Và con người không ai lại có thể yêu kẻ thù nghịch với chính mình.  Trong Cựu Ước cũng áp dụng quy luật "Mắt đền mắt, răng đền răng"; nhưng Chúa Jesus dạy chúng ta theo một nguyên tắc khác hẳn:

"Các ngươi có nghe lời phán rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Song ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ. Trái lại, nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ luôn. Nếu ai muốn kiện ngươi đặng lột cái áo vắn, hãy để họ lấy luôn cái áo dài nữa. Nếu ai muốn bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi hai dặm với họ. Ai xin của ngươi, hãy cho; ai mượn của ngươi, thì đừng trớ"(Ma-thi-ơ 5: 38-42).

Là người chăn bầy, đây là phẩm hạnh cần phải thực hành; cho dù không mấy dễ dàng nếu cậy sức người; nhưng vâng lời Chúa và cậy ơn của Ngài, thì không có gì là không thể vượt qua.

a.Yêu thương đi với sự tha thứ.

"Hãy ở với nhau cách nhân từ đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy" (Ê-phê-sô 4: 32).

Nếu không tha thứ, thì không thể yêu thương. Câu chuyện sau đây của Mục sư Nguyễn Văn Bình kể lại là minh chứng cho ý nghĩa này: "Trong trận chiến tranh cách mạng Hoa Kỳ, tại Pensylvania, Mục sư Peter Miller rất được cộng đồng ái mộ. Nhưng trong xóm gần nhà thờ có một người láng giềng rất oán ghét và nhiều lần nhục mạ mục sư. Anh ta là người phản quốc, nên bị toà án Philadelphia kêt án tử hình. Nghe tin ấy, Mục sư Miller vội vàng đi bộ tìm đại tướng George Washington xin ân xá cho tên tử tội. Đại tướng trả lời:

Tôi rất tiếc không thể thoả đáp thình nguyện của mục sư mà tha bổng cho người bạn thân của mục sư.

Đại tướng bảo là bạn thân của tôi à? Phải nói anh ta là một kẻ thù đê hèn nhất của tôi trên đời này!

Mục sư nói sao? Mục sư phải lội bộ cả 60 dặm để xin ân xá cho một kẻ thù? Thế thì là một chuyện khác, tôi vì mục sư ân xá cho phạm nhân.

Cầm tờ giấy ân xá của tướng Washington ký, Mục sư Miller tức tốc cuốc bộ 15 dặm để đến pháp trường. Thoạt trông thấy Mục sư Miller, tên tử tội bảo: Kìa, tên Peter Miller đã lội bộ từ Ephrata đến đây đặng trả thù ta bằng cách khoái chí chứng kiến cảnh ta bị xử treo!

Anh ta vừa dứt lời, thì Mục sư Miller cũng vừa vạch được đám đông tới nơi, trao tận tay anh ta tờ ân xá của đại tướng Washington. Mục sư Miller đã hành động đúng phương châm "Dĩ đức báo oán" theo gương cao cả của Đức Chúa Jesus. Nhưng Chúa Cứu Thế đã đi một bước xa hơn, chẳng những cầu xin sự ân xá cho kẻ thù, mà chính Ngài đã chịu chết để đền tội cho những kẻ phản bội." Kinh Thánh chép:

"Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa, dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết" (Rô-ma 5:7,8).

Chuá Jesus đã chết vì những kẻ vả trên má Ngài, kẻ đâm gươm vào sườn Ngài, cho cả kẻ đóng đinh Ngài trên thập tự. Ngài chết cho nhóm môn đệ trung thành, cho tất cả nhân loại, và cũng chết cho tên môn đệ phản trắc Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Tiểu nhân tìm sự khoái trá trong phục thù, nhưng người quân tử tìm sự vui thỏa trong sự tha thứ.  Bacon đã nhận định tác động đê tiện hoá của hận thù và tính chất thăng hoa của lòng khoan hồng, nên viết: "Phục thù một người là ngang hàng với kẻ thù, nhưng bỏ qua được mối hận mới là cao thương hơn cừu địch."

b. Yêu thương bằng hành động.

Gia-cơ cho rằng Đức tin không có việc làm là đức tin chết:

"Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng? Ví thử có anh em hoặc chị em nào không có quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ich gì chăng? Vế đức tin cũng một lẽ ấy, nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết" (Gia-cơ 2: 14-17).

Tương tự như vậy, người chăn bầy không phải là người chỉ cố xúy cho tình yêu thương trên bục giảng; trong khi chính đời sống mình lại không bao giờ quan tâm đến đời sống thuộc linh, hay thuộc thể của con cái Chúa trong Hội Thánh. Nếu người chăn bầy chỉ có bổn phận duy nhất là giảng lời Chúa vào mỗi Chúa nhật; thì không đủ trách nhiệm của người chăn bầy. Đời sống tâm linh của con dân Chúa trong Hội Thánh cần được sự dạy dỗ, nhắc nhở của vị chăn bầy thường xuyên. Bên cạnh đó, sự thăm viếng những gia đình của con dân Chúa trong Hội Thánh nơi mình quản nhiệm là công việc cần thiết. Người quản nhiệm tức là coi sóc những thành viên trong Hội Thánh về nhiều phuơng diện. Ngay trong những hạnh phúc gia đình, hôn nhân bền vững cũng luôn cần có sự quan tâm của mục sư qua những bài giàng. Đồng thời, cũng cần có sự cố vấn cho những đôi vợ chồng có sự rạn nứt hay xung đột.

Con cái Chúa rất cần sự quan tâm của mục sư quản nhiệm. Họ cần có sự thăm viếng và cầu nguyện của mục sư. Sự hiện diện của ông như là niềm an ủi, khích lệ con cái Chúa trong những lúc mệt mỏi, ngã lòng. Chưa hết, trong các lễ lộc ở gia đình hay tang chế, không thể thiếu sự hiện diện của vị mục sư quản nhiệm. Đây là dịp con cái Chúa bày tỏ niềm vui mừng hoặc chia sẻ những đau thương hay buồn phiền nếu có. Người chăn bầy không những là người lãnh đạo thuộc linh; mà còn là người bạn cần thiết cho tất cả mọi gia đình trong Hội Thánh. Họ phải luôn là tấm gương tiên phong mẫu mực trong đời sống, để con cái Chúa noi theo. Nhận định về vấn đề này, Mục sư Phạm Hữu Nhiên viết:

" Phẩm cách rất quan trọng đối với chức vụ mục sư. Một người lãnh đạo trong các tập thể khác có thể ăn uống, say sưa, ái tình lăng nhăng, mà vẫn lãnh đạo tốt được. Người mục sư thì khác. Tư cách của mục sư là một công cụ quan trọng của chức nghiệp mục sư. Tuỳ theo cách sống của mình mà mục sư có được Chúa chúc phước hay không, con cai Chúa có kính nể và vâng phục hay không. Mục sư có thể giảng rất hùng hồn, quản trị rất giỏi; nhưng điều ảnh hưởng con dân Chúa hơn hết chính là đời sống của mục sư. Đời sống của bầy chiên là bản sao của chính đời sống người chăn. Người chăn hãy bắt chước Chúa để con dân Chúa có thể bắt chước người chăn."

c. Yêu thương chân thành.

Giả dối là một trong những tội lỗi mà Chúa gớm ghiếc. Con dân Chúa không thể dối trá bất cứ điều gì; huống hồ là người chăn bầy. Mục sư là tấm gương của sự ngay thẳng và chân thành trong cách sống, lời nói và hành động. Người thế gian có thể "nói có thành không, nói không thành có." Lời của Chúa dạy dỗ con dân Ngài "chớ làm chứng dối." Con dân Chúa phải có một đời sống mới, thoát lốt người cũ là cách ăn, nết ở chưa khi tin nhận Chúa.  Là đầy tớ của Đức Chúa Trời, phải luôn trung tín với sự giảng dạy lời của Ngài, không thêm bớt hay bẻ cong lời Chúa để điễn đạt theo ý riêng.  Bàn về sự chân thật và liêm chính này, tác giả J. Oswald Sanders đã viết về những phẩm chất cao quý của Phao Lô:

"Phao Lô nói lên sự cởi mở và chân thật của mình về những thành công cũng như thất bại (I Ti-mô-thê 1:3), cũng như sự thanh liêm cao độ, ông viết:

"Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chơn thật theo như đạo từ Đức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời trong Đấng Christ"(II Côr 2: 17).

Hai phẩm chất này là một phần của luật pháp mà Đức Chúa Trời đã ban bố cho dân Y-sơ-ra-ên (Phục Truyền 18:13). Đức Chúa Trời muốn dân Ngài bày tỏ ra một đặc tính cởi mở, trong suốt và vô tội."

Khi tin nhận Chúa rồi, con dân Chúa được mặc lấy đời sống mới, mà mục sư cũng không ngoại lệ. Mục sư luôn lấy lời ngay, lẽ thật của Kinh Thánh mà giảng dạy. Không để cho tư dục dỗ dành khi chia sẻ lời Chúa. Không thể giảng dạy theo sự khôn ngoan riêng của mình mà phải theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Người chăn bầy luôn trung thực trong mọi cách sinh hoạt của mình, và cũng đừng để ai quyến dụ đi vào sự lầm lạc. Phi-e-rơ khuyên bảo:

"Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dỗ anh em; vì ấy là nhân những điều đó mà cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch. Vậy chớ có thông đồng điều chi với họ hết. Vả lúc trước anh em đương còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng; vì trái của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công bình và thành thật. Hãy xét điều chi vừa lòng Chúa, và chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn" (Ê-phê-sô 5: 6-11).

Căn cứ vào lời dạy của Thánh Kinh, người chăn bầy phải luôn mẫu mực, không nói hai lời, không nói hai thành một; nhưng luôn giữ chữ tín của bản thân mình bằng sự thành thật. Sự thành thực của người chăn bầy làm cảm động lòng con cái Chúa; và khiến cho mọi người kính nể. Cho dù "trung ngôn nghịch nhĩ"; nhưng sự thật bao giờ cũng là điều quý giá, đáng trân trọng.

Thời đại ngày nay, cái gì cũng giả tạo từ thực phẩm, đồ dùng cho đến thân thể con người. Nhưng, người chăn bầy không sống theo tiêu chuẩn đạo đức của thế gian mà bước theo tiêu chuẩn của lời Chúa. Không nên khen nịnh cho người ta vui lòng; mà khen đúng với sự thật cũng như suy nghĩ của mình. Người chăn bầy có thể khích lệ những ưu điểm của con cái Chúa, nhưng tuyệt đối không tăng bốc hay nịnh bợ!

Kinh Thánh chép:"Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành mà day động và đổi dời theo chiều gió của đạo lạc. Nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ. Ấy là nhờ Ngài mà cả thân thể ràng buộc vững bền bởi những cái lắt léo, khiến các phần giao thông với nhau tùy lượng sức mạnh của từng phần, làm cho thân thể lớn lên, và tự gây dựng trong sự yêu thương" (Ê-phê-sô 4: 14-16).

3. Yêu thương những linh hồn hư mất

"Hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm" (Ê-phê-sô 5: 2).

Nhiệm mạng của người chăn là rao giảng Phúc Âm cho người chưa được cứu. Việc làm này sẽ không thể thực hiện được cách kết quả, nếu người chăn chưa thật sự yêu thương những người chưa tin nhận Chúa Jesus. Trước khi thăng thiên, Chúa Jesus phán:

"Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép Báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" (Ma-thi-ơ 28:19,20).

a. Hãy đi dạy dỗ muôn dân.

Đây là mạng lệnh của Chúa Jesus. Đã là mạng lệnh thì con dân Chúa phải thi hành. Người chăn bầy không chỉ chăm sóc bầy chiên của mình trong bốn bức tường của Hội Thánh; mà còn luôn nghĩ đến những người chưa được cứu chung quanh mình và ở khắp mọi nơi. Người chăn bầy luôn có kế hoạch khích lệ con cái Chúa bước ra ngoài phạm vi của Hội Thánh, đến với người chưa được cứu. Tuỳ khả năng, sức lực và điều kiện thuận tiện; cần phải tổ chức những chương trình truyền giảng Phúc Âm qua các phương tiện có thể thực hiện được.

Ngày nay có một số Hội Thánh chủ trương "sống bình an"; nghĩa là không bao giờ nghĩ đến việc truyền giảng Tin Lành cho người chưa được cứu. Lần nọ, tại một Hội Thánh Bap-tít ở Virginia, Chúa sai tôi đến đó, để nhận chức vụ chăn bầy tại đây. Chỉ sau ba tháng, tôi đã bắt đầu lên kế hoạch truyền giảng cho người Việt Nam trong khu vực đó. Kế hoạch của tôi dường như có vẻ xa lạ với mọi người; vì đã từ lâu Hội Thánh không hề nhắc đến mục vụ này. Một vị truyền đạo không vui, nói với tôi rằng: "Chúng tôi chỉ muốn sống bình an. Còn Mục sư thì luôn luôn lên kế hoạch này, kế hoạch nọ. Ở đây, người ta không tin Chúa nữa đâu, đừng hoài công vô ích!"

Tôi thật ngỡ ngàng với ý tưởng này. Nhưng, sau khi tìm hiểu thêm, tôi mới biết rằng đã hơn mười năm qua, Hội Thánh không hề có chương trình truyền giảng, mục sư thì không bao giờ đi thăm viếng, chăm sóc ai. Vì vậy, con cái Chúa không hưởng ứng chương trình tôi đưa ra. Quả thật, những Hội Thánh lười biếng như thế này, trách nhiệm do ở người chăn. Phải nói ngay là "đầy tớ biếng nhác!"

Người chăn bầy rõ ràng là "linh hồn" của Hội Thánh. Nếu linh hồn bịnh hoạn, yếu đuối thì làm sao khích lệ được con cái Chúa thi hành bổn phận của mình! Con cái Chúa chỉ biết đến nhà thờ vào mỗi Chúa nhật, ca hát, dâng tiền, nghe giảng, thông công và chấm hết! Đó là hiện tượng của những Hội Thánh "giậm chân tại chỗ" để chờ ngày triệt tiêu! Con cái Chúa không có cơ hội được đem Phúc Âm đến cho mọi người như mạng lệnh của Chúa Jesus. Và do đó, những chương trình huấn luyện trang bị cho người chứng đạo trở nên thừa thải, không cần thiết.

Tuy nhiên, trong nước Việt Nam, ngày nay Chúa cho chương trình truyền giảng đại chúng bùng nổ trong một môi trường xã hội khắc nghiệt. Sau Năm 1975, Hội Thánh tư gia được hình thành và phát triển mạnh mẽ. Con số người tin Chúa tăng vọt hàng năm. Chúa đã dấy lên một số con dân Chúa tình nguyện đứng vào chức vụ chăn bầy hay truyền giáo. Rất nhiều anh chị em sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sự hầu việc Chúa luôn gặp thử thách, bị bắt bớ, tù đày, bị giam cầm, đánh đập. Nhưng tình yêu của họ đối với những linh hồn hư mất được bùng cháy. Vì vậy, Chúa đã ban phước cho nhiều Hội Thánh tư gia; đã tổ chức nhiều chương trình truyền giảng quy mô, và hàng chục nghìn người được cứu. Tạ ơn Chúa vô cùng!

b. Truyền giáo trong danh Chúa Jesus

"Nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm Báp-tem cho họ"(Ma-thi-ơ 28:19).

Ngày nay, Đạo Tin Lành có rất nhiều giáo phái, và mỗi giáo phái thường có hệ thống tổ chức riêng của giáo phái mình. Vì vậy, có những người đi ra truyền giáo với danh nghĩa của một giáo phái. Thiết nghĩ, đây là một trong những rào cản làm ngăn trở người đến với Chúa; bởi lẽ sự phức tạp và khó hiểu của giáo phái tạo nên tâm lý hoang mang cho người chưa biết Chúa. 

Để công tác truyền giáo đem lại kết quả dễ dàng hơn, thiết nghĩ người rao truyền Phúc Âm nên nhân danh Đức Chúa Jesus, để rao báo sự yêu thương của Ngài qua sự chết của Chúa Jesus trên thập tự giá. Không nên nhân danh giáo phái, hay cá nhân, tổ chức nào để tránh sự lúng túng khó hiểu từ những người chưa tin Chúa. Trong vấn đề truyền giáo không đơn giản, nếu người ra đi không được trang bị vững vàng về lời Chúa, phương pháp chứng đạo, tâm lý giao tiếp cũng như sự hiểu biết chắc chắn về Kinh Thánh. Tình trạng này phải nói ngay là một sự liều lĩnh, vô trách nhiệm của người lãnh đạo Hội Thánh; và sẽ không đem lại kết quả cho công việc Chúa.

Vì vậy, người chăn bầy cần được trang bị kỹ càng về công tác truyền giảng và chứng đạo. Người chăn bầy cần có sự khiêm nhường, nhạy bén để học hỏi từ những Hội Thánh hay quý đầy tớ của Chúa khác đã từng có kinh nghiệm. Trong công tác này, người chăn bầy phải nhận thức rằng đây là một chiến trận thuộc linh, mà kẻ thù chính là ma quỉ. Sa-tan luôn tìm cách phá hủy những chương trình truyền giáo hay chứng đạo. Cho nên, người chăn bầy phải nhìn thấy những sự phá hoại rất tinh vi trong chiến trận này.

Người chăn bầy luôn tâm niệm với Chúa, khắng khít với Ngài; cầu xin Ngài ban cho sự hạ mình và khiêm nhường; mới có thể chinh phục và khích lệ nhiều anh chị em trong Hội Thánh đồng công trong sứ mạng trọng đại này. Đây là phẩm tính không thể thiếu và không thể coi thường; vì sự lãnh đạo thuộc linh không phải là ra lệnh; mà là sự thuyết phục bằng tình yêu thương và sự cầu nguyện. Là người chăn bầy phải nhân danh Ba Ngôi Đức Chúa Trời mà thi hành chức vụ. Không nhân danh bất cứ ai, không tôn vinh, ca tụng con người. Tất cả sự vinh quang dành cho Chúa, và mọi sự nhờ cậy Chúa để hoàn thành sứ mạng. Phao Lô đã khẳng định:

"Tôi làm được mọi sự là nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi" (Phi-líp4:13).

c. Noi gương những nhà truyền giáo.

Người đã tận hiến cuộc đời cho công cuộc truyền giáo sau khi trở lại đạo, không ai khác hơn là Sứ đồ Phao Lô. Sau khi được A-na-nia đặt tay cầu nguyện và làm phép báp-tem cho ông, Sau-Lơ ở lại một vài ngày với các môn đồ tại thành Đa-mách. Người liền giảng dạy trong các nhà hội rằng Đức Chúa Jesus là con Đức Chúa Trời.

Sau đó, Phao-lô và Ba-na-ba được sai đi giảng cho người ngoại. Phao Lô cùng Ba-na-ba đến đảo Chip-rơ, thành An-ti-ốt, xứ Bi-si-đi, Y-cô-ni, Lit-rơ, v.v... Sau khi Phao Lô và Ba-na-ba phân rẽ nhau, Phao Lô đem Ti-mô-thê theo tới thành Đẹt-bơ, Ma-xi-đoan, Phi-líp, Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê, Cô-rinh-tô, v.v... Điều muốn nói ở đây là sự nung đốt bởi những linh hồn chưa được cứu; khiến cho Phao Lô cùng với những môn đệ của Chúa đi khắp xứ để rao báo danh của Chúa Jesus:

"Khi đến tại A-thên, Phao Lô dạn dĩ biện luận cùng những nhà triết học thuộc phái Epicuriens và phái Stociens, khi ông nhìn thấy thành này đầy những thần tượng. Bây giờ, Phao-lô đứng giữa A-rê-cô-ba nói rằng: Hỡi người A-thên, phàm việc gì ta cũng thấy các ngươi sốt sắng quá chừng. Vì khi ta trải khắp thành các ngươi dùng thờ phượng, thì thấy có một bàn thờ chạm chữ rằng: Thờ Chúa Không Biết. Vậy Đấng các ngươi thờ mà không biết đó là Đấng ta đang rao truyền cho. Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự trong đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu. Ngài cũng chẳng dùng tay người ta hầu việc Ngài dường như có cần đến sự gì, vì Ngài là Đấng ban sự sống, hơi sống, muôn vật cho mọi loài..." (Công vụ 17: 16-34).

Nếu chúng ta đọc hết phân đoạn này, sẽ thấy đối tượng mà Phao Lô muốn giới thiệu và giảng dạy cho nhiều người, không ai khác hơn là Đức Chúa Jesus, Đấng Cứu Thế của nhân loại.  Ông không giảng loanh quanh, "đánh gió hay chạy bá vơ," nhưng đi thẳng vào chủ đề. Đó là cách truyền giảng tốt nhất, mà những người chăn bầy ngày nay nên nên noi theo.  Một điểm nổi bật nữa, là Phao Lô giảng giải lẽ thật không khoan nhượng trước những người thờ thần tượng:

"Phần nhiều kẻ đã tin đến xưng tội và tỏ ra việc mình đã làm. Có lắm người trước theo nghề phù phép, đem sách vở mình đốt trước mặt thiên hạ; người ta tính giá sách đó cộng là năm muông đồng bạc. Ấy vậy nhờ quyền phép của Chúa, đạo bèn đồn ra, càng ngày càng được thắng" (Công Vụ 19: 18-20).

Trong công cuộc truyền giáo của Sứ đồ Phao Lô, Phi-e-rơ, Ba-na-ba, v.v... không giống như những nhà truyền giáo ngày nay. Có thể nói rằng, các môn đồ của Chúa Jesus ngày xưa đã trả cái giá rất đắc cho sứ mạng của mình. Họ đã thật sự vác thập tự giá mà theo Chúa. Phao Lô và đồng lao của ông đã phải bị bắt bớ, tra tấn, tù đày và cuối cùng là những cái chết rất kinh khiếp. Có người đã bị đóng đinh, thậm chí đóng đinh ngược như Phi-e-rơ, có người bị chém đầu như Phao Lô, bị giết vì gươm như Gia-cơ, v.v… Phao Lô cũng đã bị đánh đòn suýt chết nhiều lần, đói lạnh, trần truồng nhưng ông đã quyết dâng cuộc đời mình trọn vẹn cho Chúa, hoàn thành cuộc đua, sống cho Chúa và chết vì Chúa. Đây là một thách thức cho những người chăn bầy hôm nay. Chúng ta có sẵn sàng trả giá cho sứ mạng của mình chăng?

Trong lịch sử những nhà truyền giáo của những thế kỷ gần đây, tôi để ý đến một người rất mạnh mẽ, cũng có tinh thần sốt sắng như lửa nung trong lòng. Đó là nhà truyền giáo Moody. 

"Vừa khi được cứu, ông quyết định mỗi khoảng hai mươi bốn giờ vùn vụt qua đi, phải bàn luận về linh hồn ít nhất cho một người nghe. Ông bận rộn quá, cho nên thường đến giờ cuối cùng mới sực nhớ ý định. Ông bèn từ giường nhảy xuống đất, bận áo, ra ngoài phố cắt nghĩa đạo cho một người nghe. Đêm nọ, về nhà khuya lắm, bỗng dưng nhớ đến rằng chưa cắt nghĩa cho một người nào về Chúa Jesus, liền nói: Uổng phí một ngày!...Ông D. L Moody chỉ là người học thức nông cạn, chữ nghĩa lờ mờ, nhưng ông đã truyền giáo với năng quyền của Đức Thánh Linh, cho đến nỗi đã có hàng vạn người đã đổ xô đến nghe ông giảng..." 

Tóm lại, người chăn bầy trước hết phải có một đời sống đầy dẫy tình yêu thương; phải mặc lấy sự công nghĩa trong cách sống, luôn đối xử tốt với mọi người. Người chăn bầy lấy lời Chúa làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt của cuộc sống mỗi ngày. Vua Đa-vít đã tìm cầu Chúa luôn từ buổi sáng cho đến buổi chiều; ông khát khao luật lệ Chúa và vui mừng về chứng cớ của Ngài (Thi-Thiên 119: 5-8). Cuộc sống của vua Đa-vít đã có lúc vấp ngã; nhưng chính từ sự thất bại đó, ông đã học được biết bao nhiêu bài học quý giá cho người lãnh đạo thuộc linh hôm nay. Đó là sự bám chặt lấy lời Chúa; chăm xem các đường lối của Chúa; và chẳng quên đường lối của Ngài (Thi-Thiên 119: 15,16).

Ngoài tình yêu thương đối với anh em trong cùng đức tin, người chăn bầy còn phải có tình yêu thương đối với những linh hồn chưa được cứu. Họ phải là những người tiên phong và là tấm gương sốt sắt trong sứ mạng rao báo Phúc Âm cho nhiều người. Họ phải cam kết và tận hiến cho Ngài trong sứ mạng cứu người. Họ phải có những ước vọng truyền giáo và ôm ấp những hoài bão tốt đẹp, hầu có thể đem hàng triệu người đến cho Chúa; cũng như mở mang nhiều Hội Thánh. Trong lịch sử của Hội Thánh Chúa, không biết có bao nhiêu là đầy tớ của Chúa đã và đang tiếp tục bước theo chân Chúa Jesus; thực thi "Đại mạng lệnh" đem Phúc Âm đến tận cùng trái đất. Đây không chỉ là phẩm hạnh yêu người chưa được cứu, mà còn là một sứ mạng được chép trong (Mác16: 15):

"Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người."

Để có thể làm tròn thiên chức này, người chăn bầy luôn gần gũi với Chúa, trong sự khẩn nguyện nài xin Chúa gìn giữ một đời sống xứng đáng với sự kêu gọi của Ngài. Tấm lòng luôn hướng về những điều ngay thẳng, công bình, từ chối những ý tưởng tiêu cực, không thánh khiết. Người chăn bầy là bạn hữu của người hiền lành, và kính sợ Đức Chúa Trời. Người chăn bầy nên có một tâm nguyện như vua Đa-vít:

         "Xin hãy dạy tôi lẽ phải và sự hiểu biết, vì tôi tin các điều răn Chúa. Trước khi hoạn nạn thì tôi lầm lạc; Nhưng bây giờ tôi gìn giữ lời Chúa"(Thi Thiên 119:66,67).

621 lượt xem
Các bài trước
Bạn Có Thể Chỉ Là Một Đứa Trẻ Về Thuộc Linh (25/07/2018)
6 ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT ĐỂ CÓ ĐƯỢC CUỘC SỐNG VUI VÀ CÓ Ý NGHĨA THẬT (23/07/2018)
SỰ CHÂN THÀNH (27/06/2018)
NHỜ CẬY CHÚA (29/05/2018)
ĐỀN THỜ THỨ BA TẠI SI-ÔN (19/05/2018)
TRONG NGÀI CHÚNG TA SỐNG (04/05/2018)
MỘT NGƯỜI Ở GA-ĐA-RA (01/05/2018)
TỈNH THỨC TRƯỚC CẠM BẪY CỦA SA-TAN (26/04/2018)
QUỐC KHÁNH LẦN THỨ 70 CỦA ISRAEL (23/04/2018)
HÃY NHÌN NGƯỜI QUA CON MẮT CỦA CHÚA (17/04/2018)
Thánh Kinh Trắc Nghiệm 2000  
THÁNH KINH GIẢI ĐÁP - Bài 11&12 MS Lê Kim Duyệt
 
Tuyển Tập Viết Cho Niềm Tin 2016  
TÔI VẼ NHỮNG GIẤC MƠ
 
Truyện Ngắn & Tùy Bút  
TẤT CẢ... CHỈ BỞI ƠN CHÚA
 
Giới Thiệu Nhạc Thánh Mới  
NÔ-EN ĐÃ ĐẾN RỒI
 
Cùng Suy Gẫm Với Mục Sư Lữ Thành Kiến  
TÔI RẤT YÊU CHÀNG
 
Tạ Ơn Chúa  
LỜI CHỨNG CỦA PAUL MCGUIRE
 
Kinh Thánh  
KINH THÁNH TÂN ƯỚC: Sách KHẢI HUYỀN
 
Đức Tin  
CÁC NGƯƠI PHẢI SANH LẠI
 
Tin Tức  
NHÀ TÌNH THƯƠNG - Huyện Thạnh Phú, Tỉnh Bến Tre
 
VHope  
Đôi Mắt Sam-Sôn - Bùi Caroon
 
Thơ & Nhạc  
"ẢI MỸ NHÂN"
 
Góc của Ađam & Êva  
Làm Sao Để Tin Tưởng Tấm Lòng Của Chúa Khi Ngài Yên Lặng
 
Phát Thanh Tin Lành Ontario  
PHÁT THANH TIN LÀNH ONTARIO 10/11/2018
 
Kịch Cơ Đốc  
NẾU CHỈ CÒN 1 NGÀY....
 
Nhận Được & Giới Thiệu  
Israel & Greece's Trip - April 2019
 
Nghiệm và Sống  
CUỘC ĐUA ĐẾN NAM CỰC
 
Tin Lành Media  
HỘI ĐỒNG GIÁO HẠT HOA KỲ - Chương Trình Nam Giới 2018
 
Thánh Kinh Giải Đáp  
TKGĐ 17 - PHẠM TỘI MÀ KHÔNG SỢ?
 
Tài Liệu  
Cố Mục Sư PHẠM XUÂN THIỀU (1942-2002)
 
Hội Thánh Truyền Giáo Trên Đường Dây  
XƯNG CÔNG CHÍNH BỞI ĐỨC TIN - MS Nguyễn Thới Lai
 
Phút Suy Tư (PowerPoint Slide Show)  
KHI TÔI QUỲ NƠI CHÂN CHÚA
 
Bạn Hữu Âm Nhạc  
CHÚA XUÂN
 
Nhật Ký Truyền Giáo  
MUỐI CỦA ĐẤT
 
Chia Sẻ Phim & Ảnh  
Con Tàu Nô-ê đã tìm thấy và cơn Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh là có thật
 
Cuộc Thi Viết Nhạc Thánh  
CHUNG KẾT CUỘC THI VIẾT NHẠC THÁNH 2015
 
Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn  
THÔNG BÁO MỚI VỀ TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN & NHẠC THÁNH VIẾT CHO NIỀM TIN 2016
 
Hoa Tư Tưởng  
HOA TƯ TƯỞNG 28
 
Hay & Lạ Từ Internet  
Trượt Chân Té Ngã Lúc Tuổi Vàng
 
Website Cơ Đốc  
GIỚI THIỆU WEBSITE CƠ ĐỐC