Thức canh và cầu nguyện
Math 26:41

Sống Đạo Ministry
Cơ Quan Truyền Thông
& Xã Hội Tin Lành

Cố vấn: Mục sư
Cam Lộc Nguyễn-hàm Hoàng
Điều hành:
Thiên Kiều Giang
Liên lạc:
Email:
songdao@songdaoonline.com
Sống Đạo Truyền Hình
sdtv@songdaoonline.com

~~~~~~~~
Hộp thư:
SONG DAO MINISTRY
P.O. BOX 78087
Vancouver BC V5N 5W1
Canada

 
BÍ QUYẾT NÀO ĐÃ GIÚP MUC SƯ TIẾN SĨ BILLY GRAHAM TRỞ THÀNH NHÀ TRUYỀN GIÁO TOÀN CẦU ĐẤY QUYỀN NĂNG, KẾT QUẢ VÀ THÀNH CÔNG CHỨC VỤ RAO GIẢNG TIN LÀNH?

Nhà Truyền Giáo đầy ơn, nổi tiếng, và ảnh hưởng trên nhiều người ngay cả các Tổng Thống Hoa Kỳ, Mục Sư Tiến Sĩ Billy Graham đã về an nghỉ trong nước Chúa sáng ngày 21 tháng 2 2018 (1918-2018)

BÍ QUYẾT NÀO ĐÃ GIÚP ÔNG TRỞ THÀNH NHÀ TRUYỀN GIÁO TOÀN CẦU ĐẤY QUYỀN NĂNG, KẾT QUẢ VÀ THÀNH CÔNG CHỨC VỤ RAO GIẢNG TIN LÀNH?

Kính Mời Quí Vị Đọc Bài Viết này:

HÃY HẠ MÌNH TRƯỚC MẶT CHÚA

1. Hãy Hạ Mình Để Được Đầy Dẫy Thánh Linh

Nhà Truyền Giảng Billy Graham nói “Tôi tin chắc rằng không cần biết ai người được đắc cử, Nước Mỹ không được cứu vớt trừ phi chúng ta có một cơn phục hưng đạo đức và tâm linh - I am absolutely convinced that no matter who’s elected, America is not going to be saved unless we have a moral and spiritual revival.”

Mục sư Billy Graham nói “Không quốc gia nào phát huy đạo đức mà không có một cơn phấn hưng của tôn giáo… và nước Mỹ cần một cuộc phấn hưng hôm nay!- No nation has ever improved morally without a revival of religion… and America needs a revival today!”

Sự đầy dẫy Thánh Linh là chỉ dấu của một đời sống năng động và sự cần thiết cho tăng trưởng và trưởng thành thuộc linh. Đức Thánh Linh chỉ ngự trị, hiệp thông và quản chế đời sống của Cơ-đốc-nhân được thánh hoá. Khi một người đặt lòng tin nơi Chúa Cứu Thế, khả năng hiểu biết lời Chúa rất giới hạn và thiển cận. Nhưng khi người đó được đầy dẫy Thánh Linh, đời sống tâm linh sẽ phát triển cách nhịp nhàng và năng động mà không theo một quy luật chung nào cả. Bởi vì, có lúc người đầy dẫy Thánh Linh sẽ trải nghiệm cảm xúc sâu xa, nhưng có lúc sẽ không kinh nghiệm cảm xúc.

Trong quyển sách tựa đề “The Evangelist – Nhà Truyền Giảng” do Nhà xuất bản Word Publishing 2001, Tác giả Lewis Drummond viết và kể rất chi tiết thể nào về bí quyết thành công đầy ơn Chúa ban cho cuộc đời và chức vụ của Nhà Truyền giảng Billy Graham trong suốt hơn 6o năm để rồi đưa dẫn hàng triệu linh hồn nhận ơn cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-su.

Năm 1954 Mục sư Billy Graham và Bà Ruth Graham đã đi sang Anh quốc bằng thuyền để tham dự buổi Truyền giảng Harringay Crusade. Trong thời điểm của chuyến đi này, Nhà Truyền giảng Billy Graham dường như đang trải nghiệm một cuộc tranh chiến tâm linh sâu thẩm trong tâm hồn, bên cạnh cảm giác trầm cảm và lo sợ mình thiếu thốn điêù gì đó trong đời sống. Ông kể lại rằng:

“Một ngày nọ trên chiếc tàu, tôi đang cầu nguyện với nhà tôi và các bạn đồng sự, và có một sự tan vỡ đến. Tôi đã khóc trước Chúa, tôi đã được đỗ đầy với sự quyền năng sâu thẩm từ Đức Chúa Trời và Ngài đã thành tín. Tôi đã được báp tem bởi Chúa Thánh Linh trong thân thể của Đấng Christ khi tôi được cứu chuộc, nhưng tôi tin Đức Chúa Trời ban cho tôi một sự xức dầu đặc biệt trên hành trình đến Anh quốc. Từ giây phút đó tôi đã tin tưởng rằng Chúa Thánh Linh đã điêù khiển cho công tác của buổi truyền giảng năm 1954 tại Anh quốc.”

Vâng Chúa Thánh Linh báp tem, đỗ đầy quyền năng vào những thời điểm cho các nhu cầu đặc biệt. Ngài xức dầu Thánh Linh cho con dân của Ngài, cho mục đích công bố Phúc Âm, và cho sự cứu rỗi. Chính vì thế mà Mục sư Billy Graham thường nhắc đến câu Kinh Thánh của Sứ đồ Phao-lô nói “Tôi dạy và truyền giảng không phải bằng lời thuyết phục khôn khéo nhưng do sự thể hiện Đức Thánh Linh và quyền năng. 5 Vì thế, đức tin anh chị em không xây dựng trên sự khôn ngoan loài người, nhưng trên quyền năng Đức Chúa Trời.” (1 Cô-rinh-tô 2:4,5).

Tại sao chúng ta cần sự đầy tràn Thánh Linh? Đời sống Cơ-đốc-nhân chỉ có thể sống vinh hiển Danh Chúa trừ phi Đức Thánh Linh tể trị đời sống Cơ-đốc-nhân đó và quyền năng Chúa Thánh Linh vận hành trên mọi lãnh vực của đời sống người đó. Sự đầy dẫy Thánh Linh không phải là sự chọn lựa theo ý muốn của mỗi tín nhân, mà là sự cần thiết rất trọng yếu cho một đời sống sung mãn và kết quả cho chức vụ đầy ơn. Đời sống tràn đầy Thánh Linh không phải là một đời sống bất bình thường, mà là một nếp sống bình thường và lành mạnh của người tin theo Chúa Cứu Thế Giê-su.

Theo triết lý sống thuộc linh của Nhà Truyền giảng Billy Graham, muốn nhận lãnh mức độ của đời sống đầy dẫy Thánh Linh, mỗi tín nhân cần phải cam kết thực hiện ba bước như: sự hiểu biết, sự vâng phục, và sự bước đi bởi đức tin (understanding, submission, and walking by faith). Không ai có thể phủ nhận kết quả của chức vụ truyền giảng Tin Lành của Nhà Truyền giảng Billy Graham đã giúp hàng triệu linh hồn được nhận ơn cứu rỗi linh hồn qua sự đầy dẫy Thánh Linh của ơn rao giảng Phúc Âm. Mục sư Billy Graham đã nói rằng “Tôi sẽ đi truyền giảng về sự sinh ra, sự chết, và sự phục sinh của Ngài. Tôi sẽ rao giảng nó cho đến khi Chúa Giê-su trở lại – I’m going to preach His birth, death, and resurrection. I’ll preach it until Jesus comes.”

Lúc 28 tuổi, Nhà Truyền giảng Billy Graham đại diện cho Cơ quan Youth For Christ đã có cơ hội sang xứ Wale để giảng Phúc Âm. Xứ Wale cũng là quê huơng của những Nhà Truyền giảng Phục Hưng nỗi tiếng một thời, và Billy Graham đã được Chúa thôi thúc để trở về quê hương nguồn cội của chính mình. Trong chuyến thăm viếng và truyền giảng Phúc Âm của ông dường như không đạt được lòng mong muốn. Ví thế, một đêm nọ khi đang nằm trên giường nghĩ ngợi về công việc Chúa ở xứ Wales, ông bắt đầu cảm nhận sự khao khát tìm kiếm Chúa nhiều hơn. Càng khao khát sự tìm kiếm Đức Chúa Trời, có một người đàn ông luôn hiện đến tâm trí của ông. Đó chính là Nhà Truyền giảng Steven Olford, người mà ông và toán Truyền giảng đã dừng chân lại để nghe Mục sư Steven Olford giảng tại Gravesend, xứ wales. Billy Graham cảm nhận vài điêù nào đó ở trong cuộc đời và chức vụ đầy quyền năng của Mục sư Steven Olford mà Billy rất cần cho chức vụ tương lai của mình.

Vì thế, sáng hôm sau Billy Graham đã làm được buổi hẹn gặp mặt Mục sư Steven Olford tại một Khách sạn nhỏ gần làng Pontypridd. Hai người khi gặp nhau đã trao đổi về những vấn đề thuộc linh, và nhận biết Mục sư Steven Olford là con trai của một cặp Giáo sĩ đã từng truyền giáo tại Phi châu. Cha của Mục sư Steven Olford được hướng dẫn tiếp nhận Chúa bởi Nhà truyền giảng R.A. Torrey, nhưng Steven Olford đã chịu ảnh hưởng của phong trào Keswick tức phong trào nhấn mạnh về đời sống đầy dẫy Thánh Linh hầu tận hiến cho Chúa Cứu Thế.

Vào ngày thứ nhất, sau những giây phút tâm tình về đời sống tâm linh và chức vụ, cả hai đều mở Kinh Thánh suy gẫm lời Chúa và cùng quỳ gối cầu nguyện khẩn thiết với Chúa trong một khách sạn nhỏ. Họ cầu xin ý chỉ và quyền năng của Đức Chúa Trời cho đời sống Billy Graham và chức vụ tương lai của ông ấy. Trong cuộc gặp gỡ lịch sử và thần thiết này, Mục sư Steven Olford khuyến khích những người Mỹ nên phát huy về vấn đề tĩnh nguyện với Chúa qua việc nghiên cứu Kinh Thánh và đời sống cầu nguyện.

Vào ngày thứ hai, sau thời giờ cùng học hỏi lời Chúa với nhau, Mục sư Steven Olford đã giải thích về quyền năng đụng chạm và phủ ngập trên một đời sống người tin Chúa khi người đó sẵn sàng vâng phục sự tể trị Đấng Xức Dầu và thẩm quyền của lời Đức Chúa Trời. sau khi học Kinh Thánh, Mục sư Steven Olford đã cầu nguyện xin Chúa ban phước cho Billy Graham và mục vụ tương lai của ông ấy. Billy Graham cũng thầm nguyện cùng Chúa giống như lời cầu nguyện khẩn thiết của Gia-cốp: “Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi. - Let me go, for it is daybreak." But Jacob replied, "I will not let you go unless you bless me." (Sáng thế 32:26).

Mục sư Steven Olford chia sẻ thế nào Đức Chúa Trời đã biến đổi con người của ông hoàn toàn qua trải nghiệm tràn đầy và sự xức dầu của Đức Thánh Linh. Khi nghe qua những lời tâm tình của Mục sư Steven, Billy Graham đã nói với Mục sư Steven qua những giọt nước mắt tuôn tràn rằng “Mục sư Steven ơi, tôi thấy nó. Đó là đúng như điêù mà tôi mong muốn. Đó là điêù mà tôi cần trong cuộc đời của tôi.” Billy Graham đã trút đỗ hết tấm lòng của mình trong lời cầu nguyện để tận hiến tất cả cho Chúa. Và sau khi cầu nguyện, ông quay sang Mục sư Steven và nói “Tấm lòng của tôi đã tràn ngập Thánh Linh, tôi muốn vui cười và ca ngợi Đức Chúa Trời tất cả vào cùng thời điểm.” Ông đứng lên và cảm nhận rằng trong giây phút đó ông đã được đầy dẫy Thánh Linh; ông đã nói “Tôi có điều đó. Tôi đã được đầy dẫy - I have it. I’m filled”. Ông nắm bàn tay của Mục sư Steven và nói với đôi mắt bừng sáng lên: “Đây là điểm ngoặt trong cuộc đời của tôi – This is a turning point in my life.”

Sau 32 năm từ buổi gặp mặt với Mục sư Steven Olford, Nhà Truyền giảng Billy Graham đã viết quyển sách với tựa đề “Đức Thánh Linh – The Holy Spirit.” quyển sách này truyền đạt cái nhìn và nội dung của thể nào công tác của Chúa Thánh Linh liên quan không những tới đời sống Cơ-đốc-nhân, mà còn liên quan đến mục vụ truyền giảng Phúc Âm. Trong quan điểm Thần học về Chúa Thánh Linh, ông nói rằng “Công tác của Đức Chúa Con cho chúng ta, và công tác của Đức Thánh Linh ở trong chúng ta, để kiến lập bản chất về kinh nghiệm thuộc linh.” Ông thường chia sẻ lời của một người bạn nói “Tôi cần Chúa Giê-su cho sự sống đời đời của tôi và tôi cần Chúa Thánh Linh cho đời sống bên trong của tôi.”

2. Hãy Hạ Mình Để Được Chúa Phấn Hưng Tâm Linh.

Hội thánh phục hưng là sự kêu gọi của Chúa Cứu Thế Giê-su cho những Hội Thánh cần phục hồi quyền năng của Chuá Thánh Linh, tình yêu ban đầu, và sự công chính. Trong bức thư gởi cho Hội thánh Ê-phê-sô , Chúa Giê–su nói “Nhưng, Ta có điều trách con vì con đã mất tình yêu ban đầu. 5 Vậy, con hãy nhớ lại con đã vấp ngã từ đâu, hãy ăn năn và làm lại công việc ban đầu. Nếu không, Ta sẽ đến và dời giá đèn của con ra khỏi chỗ của nó trừ khi con ăn năn.” (Khải huyền 2:4-5).

Trong Thánh Kinh Cựu Ước, sự cầu nguyện phấn hưng là sự kêu gọi mà Đức Chúa Trời muốn con dân Chúa phục hồi sự công chính, phước hạnh, sự thịnh vượng, sự tự do, và quyền năng thuộc linh. Tác giả Thánh thi đã cầu nguyện “Lạy Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Rỗi chúng tôi, xin phục hồi chúng tôi; Xin ngừng cơn phẫn nộ đối với chúng tôi. 5 Ngài sẽ giận chúng tôi mãi mãi ư? Ngài sẽ kéo dài cơn thịnh nộ đời đời sao? 6 Ngài không phục hồi sinh lực cho chúng tôi Để dân Ngài vui mừng trong Ngài sao? 7 Lạy CHÚA, xin cho chúng tôi thấy tình yêu thương của Chúa Và ban cho chúng tôi sự cứu rỗi Ngài.” (Thánh thi 85:4-7). Tiên tri Ha-ba-cúc đã khẩn thiết cầu xin Đức Chúa Trời:

Lạy Đức Giê-hô-va! Con đã nghe danh tiếng Ngài
Nên con kính sợ Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va! Giữa năm tháng vần xoay,
Xin Chúa phục hưng công việc Ngài, và tỏ cho mọi người
biết. Trong cơn giận, xin Chúa nhớ xót thương!
(Ha-ba-cúc 3:2 BHD).

a) Hãy hạ mình để được phấn hưng cá nhân.

Cuộc phấn hưng tại New York City bắt đầu từ một cá nhân, một doanh nhân, một đời sống cầu nguyện, và một tấm lòng khao khát sự thăm viếng của quyền năng Chúa Thánh Linh – ông Jeremiah Lanphier. Là một Doanh nhân có tính trầm tĩnh nhưng năng động, ông Jeremiah Lanphier được Hội Thánh North Dutch Reformed Church bổ nhiệm làm Giáo sĩ cho thành phố New York thuộc vùng Lower Manhattan. Công tác của ông rất là khó khăn và thách thức. Vì thế, ông rất dễ bị nản lòng, nhưng ông cứ trông cậy vào sức mạnh của sự cầu nguyện hầu tiếp tục sứ mạng mà ông được ủy thác.

Ông Jeremiah hi vọng sẽ có những người cần nhu cầu để đến cùng tham gia các buổi cầu nguyện, nên ông đã viết bản thông báo về một số buổi cầu nguyện hằng tuần vào lúc trưa (noon-hour), và buổi cầu nguyện đầu tiên là ngày 23, tháng 9, năm 1857 có chừng 6 người tham dự. Chương trình cầu nguyện kéo dài khoảng 1 giờ đồng hồ, tuy nhiên để thuận tiện cho một số người khác có thể tham gia cầu nguyện khoảng từ 5 cho đến 10 phút. Số người tham dự đã tăng lên trong tuần kế tiếp, và cho tới tuần đầu tiên của tháng 10, buổi cầu nguyện bắt đầu mỗi ngày thay vì mỗi tuần lễ.

Trong tuần đầu tiên của buổi cầu nguyện phục hưng tại thành phố New York, cơn phục hưng cũng đã lan tràn đến thành phố Hamilton, tỉnh Ontario, Canada do Bác sĩ Walter Palmer và vợ là Phoebe tổ chức buổi cầu nguyện. Từ những buổi cầu nguyện phục hưng tại thành phố New York và buổi giảng dạy tại thành phố Hamilton, cơn phấn hưng đã lan tràn như cơn sống phủ ngập đến đất nước Hoa kỳ, Anh quốc, Nam Phi, và Nam Ấn độ. Trong vòng sáu tháng cầu nguyện phấn hưng, có khoảng 10,000 Doanh Nhân hiệp lại cầu nguyện mỗi ngày tại New York. Trong thời gian 2 năm, khoảng 1 triệu người đã tin nhận Chúa và gia nhập vào những Hội thánh người Mỹ. Ảnh hưởng của cơn phấn hưng này đã làm tăng giá trị đạo đức của nước Mỹ, công tác truyền giáo được mở mang ở nội địa cũng như hải ngoại, và mục vụ truyền giảng của D.L. Moody tăng trưởng cách ngoạn mục.

Quí vị và các bạn có khao khát một đời sống phấn hưng cho cá nhân mình chưa? Phục hưng tâm linh phải bắt đầu từ một cá nhân hay vài Cơ-đốc-nhân với mối liên hệ đẹp lòng Chúa. Sứ giả phục hưng Charles Finney nói: “Cơn phục hưng không thể nào khởi đầu trên thế giới cho tới khi nó khởi sự từ trong Hội thánh, nhu cầu là nguồn gốc tội lỗi phải bị phá tan trong Hội thánh. Những tín hữu sa sút phải trở lại ăn năn. Họ cần phải được đổi mới đức tin. Trước khi thế giới được thăm viếng, chúng ta cần phải đổi mới ảnh tượng của Chúa Giê-su trong chính chúng ta.” (Walter B. Knight, Knight’s Treasury of Illustrations, Eerdmans, p. 322).

Trong khi tìm kiếm cơn phấn hưng tại Hebrides, một nhóm Cơ-đốc-nhân hiệp lại cầu nguyện 3 đêm mỗi tuần trong vòng vài tháng. Cuối cùng, sau khi đọc Thánh thi đoạn 24, một thanh niên trẻ đóng quyển Kinh Thánh lại và nói “Anh em ơi, đó chỉ là sự lừa dối để trông chờ đêm này qua đêm nọ, tháng này qua tháng kia, nếu chính chúng ta không có sống ngay thẳng với Đức Chúa Trời. Tôi cần phải hỏi chính tôi - Tấm lòng của tôi có tinh sạch không? Bàn tay của tôi có trong sạch không?” Quả thật, nếu ngày nào chúng ta chưa can đảm đối diện với tội lỗi của chúng ta, mặc dù chúng ta có thể nói về phục hưng, nghiên cứu về phương pháp của sự phục hưng, và ngay cả cầu nguyện phục hưng, tất cả nỗ lực của chúng ta chỉ là điêù vô ích.

Thái độ tối quan trọng để được Đức Chúa Trời thuận ý và chấp nhận nhằm ban phước thiêng liêng và quyền năng của Ngài là sự khiêm nhường và sự hạ mình. Thánh Kinh đã ghi chép lại những tấm gương khiêm nhường và hạ mình trước mặt Chúa như:

Môi-se là người khiêm nhường (Dân số 12:3).
“A-háp đã hạ mình như thế nào trước mặt Ta chăng?” (1 Các vua 21:29).
Vua Giô-si-a hạ mình xuống trước mặt Chúa (2 Các vua 22:19).
“Vua Ê-xê-chia hạ mình xuống, không còn tự cao nữa và dân Giê-ru-sa-lem cũng vậy” (2 Sử ký 32:26).

Vua Ma-na-xe “cầu khẩn Chúa, Đức Chúa Trời mình và hạ mình xuống thật thấp trước mặt Đức Chúa Trời của tổ phụ người.” (2 Sử ký 33:11-12)

Gióp đã khiêm nhường và nói “Vì vậy, con xấu hổ về mọi điêù con nói và xin ăn năn giữa đống tro bụi” (Gióp 42:1-6)

“Tôi nói: "Khốn nạn cho tôi! Tôi chết mất! Vì tôi là người có môi bẩn thỉu, sống giữa một dân có môi bẩn thỉu; vì mắt tôi đã thấy Vua, tức là CHÚA Vạn Quân." (I-sa 6:5)

“Thấy thế, Si-môn Phê-rơ quỳ xuống dưới chân Đức Giê-su mà thưa: "Lạy Chúa, xin lìa khỏi con, vì con là người tội lỗi!" (Ma-thi-ơ 26:75; Lu-ca 5:8).

“Vì Ngài đã đoái đến người tớ gái hèn mọn của Ngài. Tất cả các thế hệ từ nay sẽ gọi tôi là người có phước.” (Ma-ri (Lu-ca 1:48)

Giăng Báp-tít nói “Ngài phải được tôn cao, còn ta phải hạ xuống.” (Giăng 3:27-30)

“Khi họ đến đông đủ, ông trình bày: "Anh em đã biết nếp sống tôi suốt thời gian qua, từ ngày tôi mới đặt chân đến Tiểu Á. 19 Tôi hầu việc Chúa với cả lòng khiêm nhường, đổ nhiều nước mắt, chịu đựng những cuộc thử thách do âm mưu ám hại của người Do Thái. 20 Tôi công bố cho anh em đủ điều lợi ích, không giữ lại chút nào, dạy dỗ anh em giữa công chúng cũng như từ nhà này qua nhà khác.” (Công vụ 20:18-19)

“Cho nên vì Chúa Cứu Thế, tôi cam chịu yếu đuối, sỉ nhục, gian khổ, bắt bớ, hoạn nạn. Vì khi tôi yếu đuối, ấy chính là lúc tôi mạnh mẽ.” (2 Cô-rinh-tô 12:10).

“Cuối cùng, hết thảy anh chị em nên có tinh thần hiệp nhất, cảm thông, yêu anh chị em, lòng thương người và khiêm nhường.” (1 Phê-rơ 3:8).

Trong quyển sách “Seeking Him” do tác giả Nancy Leigh DeMoss và Tim Grissom liệt kê ra 8 lợi ích của sự phục hưng cá nhân như: 1) phục hồi lại tình yêu ban đầu; 2) kiến tạo lại lòng khao khát học lời Chúa, cầu nguyện, sự ca ngợi và lòng vâng phục; 3) giải quyết xung đột; 4) hàn gắn hôn nhân tan vỡ; 5) phá tan sự cay đắng, sợ hãi và lo lắng; 6) Làm tươi mới tâm linh; 7) đổi mới tâm trí; 8) cải thiện đời sống.

Sự thăm viếng của Chúa Thánh Linh sẽ khởi động bởi một tấm lòng khao khát trông mong quyền năng của Ngài cáo trách, sửa trị, phục hồi, và làm tươi mới một thần linh ngay thẳng trước mặt Ngài cũng như mọi người khác. Điêù cần thiết nhất mà Chúa muốn mỗi con dân Ngài là “Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời con; Ta sẽ tỏ cho con những việc lớn và khó, là những việc con chưa từng biết.” (Giê-rê-mi 33:3). Bí quyết để kinh nghiệm sự thăm viếng của Ngài là khi “Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng." (Giê-rê-mi 29:13).

b) Hãy hạ mình để Chúa phấn hưng Hội Thánh.

Trong khi biên soạn Tạp chí Phục Hưng, Tiến sĩ Wesley L. Duewel nhận một lá thư tường trình về cơn phấn hưng tại Ấn độ. Tại một Hội Đồng có khoảng 2000 người và chừng 600 Đại biểu tham dự. Diễn biến của hai ngày đầu tiên của Hội Đồng xảy ra rất bình thường. Nhưng vào ngày cuối cùng của Hội Đồng, hầu hết hàng trăm Đại biểu đêù quyết định không ăn điểm tâm. Lúc 4 giờ 30 sáng, có hai người hiệp nhau cầu nguyện khoảng một tiếng rưởi đồng hồ và Chúa đã bày tỏ cho một trong hai người đàn ông này rằng Ngài sẽ thăm viếng con dân Ngài. Hai người này vô cùng vui mừng và hết lòng ca ngợi Ngài.

Buổi thờ phượng của Hội Đồng bắt đầu vào lúc 7 giờ sáng. Quyền lực tối tăm đã chiến đấu dữ đội nhằm ngăn trở làn song phấn hưng đang dâng cao. Chúa Thánh Linh bắt đầu nhắc nhở cách mạnh mẽ cho Tôi con Chúa rằng “nếu họ muốn được phục hưng tâm linh thì người lãnh đạo phải là người thực hiện bước đầu tiên.” Điêù này có nghĩa là người lãnh đạo phải làm gương hàng đầu về cầu nguyện phục hưng, sự xưng tội, sự giảng hoà, và rao giảng Phúc Âm.

Khi người hướng dẫn chương trình Hội Đồng mời gọi người đầu tiên bước lên bục giảng với tấm lòng đau thương và tan vỡ là vị Mục sư của Hội thánh điạ phương tổ chức Hội đồng. Đây là vị Mục sư có một đời sống sâu nhiệm tâm linh, được mọi người kính trọng, vị lãnh đạo thuộc linh, và là người rất khao khát tìm kiếm cơn phấn hưng. Động lực nào đã khiến vị Mục sư này can đảm đứng trước Hội Đồng với cả ngàn người và chính Hội thánh của ông quản nhiệm để rồi chia sẻ rằng: “Lửa trên bàn thờ đang tắt dần, và tôi là sự cản trở và vì thế tôi mong muốn Chúa nhen lại ngọn lửa trong tấm lòng của tôi - The fire on my altar is dying out, and I am the hinderance and so I want the Lord to rekindle that fire in my heart.”

Vị Mục sư này không phải là người dễ rúng động bởi bất kỳ làn sóng của cảm xúc; thật ra ông rất chống lại chủ nghĩa cảm xúc. Nhưng khi Chúa Thánh Linh thăm viếng, ông đã hoàn toàn bị rung động bởi quyền năng bắt phục sâu kín. Cảm tạ Chúa về lòng can đảm và thái độ khiêm nhu của ông. Khi ông quỳ gối xuống bục giảng, cả Hội Đồng đêù tan vỡ và bắt đầu khóc lóc. Những người chống đối vị Mục sư này muốn ông di chuyển đi nơi khác đã đồng bước lên và quỳ gối dưới chân của ông với tấm lòng tan vỡ và ăn năn.

Những làn sóng của quyền năng Thánh Linh đã thổi xuyên qua hội chúng. Thần linh của Chúa đã giáng xuống một cách mạnh mẽ và thống trị cả bầu không khí thuộc linh mà không một ai có thể chống cự lại được. Từng người một bước tới những người chung quanh mình đã từng gây cớ buồn phiền hay xúc phạm để xin được người đó tha thứ, cùng om choàng lấy nhau trong giọt nước mắt của ăn năn và cảm thông trong tình yêu thương của Chúa Cứu Thế. Một số người bước đến trước người mình đã làm lầm lỗi và bày tỏ thái độ ăn năn và xin được tha thứ. Có một người đàn ông trẻ, là giáo viên của Trường Trung Học, đã đứng dậy với lời than khóc và nói rằng “Mặc dầu tôi là Cơ-đốc-nhân, tôi đã thường làm tổn thương ba của tôi và đã không kính trọng ông ấy như tôi phải làm.” Anh đã khóc lóc trong sự tan vỡ và anh đã bò tới nơi mà ba của anh đang ngồi trong nhà thờ và quỳ xuống dưới chân của người cha mình. Ba của anh đã cùng quỳ xuống, cả hai cùng om choàng nhau để nghe những lời chống nghịch và cay đắng tuôn ra trong giọt lệ ăn năn, thống hối để rồi đón nhận tâm tình giảng hòa.

Một chàng thanh niên trẻ đến quỳ gối trước mặt vị Mục sư để bày tỏ thái độ ăn năn của mình trong quá khứ. Một người đàn bà khác đã bước tới và quỳ gối trước mặt vị Mục sư của bà với tấm lòng tan vỡ. Bà ấy là một trong những người chống đối mãnh liệt với vị Mục sư quản nhiệm Hội thánh của bà. Cảm tạ Chúa đã cho tất cả sự cay đắng đã được tha thứ trong quyền năng Thánh Linh và tình yêu thương của Chúa Cứu Thế. Một số người đến tham dự buổi cầu nguyện phấn hưng cũng đã đáp ứng lời mời gọi để mở lòng tin nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của đời sống mình. Có một người thanh niên lực lưỡng chạy lên trên bục giảng và muốn chia sẻ vài lời rằng “Tôi là một người gian ác. Tôi đã không tin nhận Chúa như Đấng Cứu Rỗi cho cá nhân tôi, nhưng tôi không thể nào chống cự lại Thánh Linh nữa. Tôi muốn tin nhận Ngài hôm nay. Tôi phải xưng tội với vài người trong Hội thánh này bởi vì tôi đã rất gian ác, và tôi đã làm buồn lòng một số quí vị. Tôi xin mỗi quí vị hãy tha thứ cho tôi.”

Nhiều tín hữu của Hội thánh đã bị bắt phục bởi quyền năng của Chúa Thánh Linh, nhưng người đầu tiên đã tha thiết cầu nguyện cùng Chúa với tấm lòng ăn năn và thống hối chính là vị Mục sư quản nhiệm. Bởi ơn thương xót của Ngài, mọi người khao khát tìm kiếm sự tươi mới của phấn hưng tâm linh đêù đuợc bắt phục, bày tỏ thái độ xưng tội và tinh thần giảng hoà.

Khi Chúa Thánh Linh thăm viếng Hội thánh của Ngài, Tôi con Chúa sống trong tinh thần hiệp một, hiệp thông, và cảm thông trong tình yêu thương của Chúa Cứu Thế. Trong sách Công vụ 1:14 ghi lại rằng “Tất cả các người đó đều kiên tâm nhất trí cầu nguyện liên tục cùng với các bà và Ma-ri là mẹ Đức Giê-su và các em trai Ngài.” Tinh thần hiệp nhất được thể hiện trong sinh hoạt của Hội thánh đầu tiên như:

“Tất cả các tín hữu đều hợp nhất với nhau, lấy mọi vật sở hữu làm của chung, 45 bán tài sản của cải mà phân phát cho mọi tín hữu tùy theo nhu cầu của mỗi người. 46 Hằng ngày, họ cứ đồng tâm chuyên cần đến Đền Thờ, họp nhau bẻ bánh từ nhà này sang nhà khác, dùng bữa với nhau cách vui vẻ rộng lượng, 47 ca ngợi Đức Chúa Trời và được lòng tất cả mọi người. Mỗi ngày, Chúa tăng thêm số người được cứu.” (Công vụ 2:44-47).

Học giả Phục hưng J. Edwin Orr nói rằng “Không có cơn phấn hưng nào mà không bắt đầu bằng sự cầu nguyện trong tinh thần hiệp một – các Cơ-đốc-nhân nên bền đỗ cầu nguyện cho sự phục hưng.” Charles Spurgeon tin rằng “Cầu nguyện là dây thần kinh mỏng manh vận chuyển những bắp thịt vạn năng.”

Martin Luther King nói rằng: “Người ta chỉ có thể trở thành tín hữu Cơ-đốc tin kính khi họ tìm kiếm Đấng Christ. Họ chỉ trở thành người dân chủ, khi họ tìm gặp Lincoln và Jefferson. Họ chỉ trở thành một đảng viên trung thành, khi họ tìm gặp Marx và Lenin và Stalin…” Cũng một thể ấy, con người chỉ có thể tìm kiếm và kinh nghiệm được lửa phục hưng của Đức Thánh Linh khi họ hết lòng tìm kiếm sự phục hoà với Đức Chúa Trời và con người.

C) Hãy hạ mình để Chúa phấn hưng đất nước.

Lời của Chúa đã kêu gọi: “nếu dân Ta, là dân được gọi bằng danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta và từ bỏ con đường gian ác, thì từ trên trời Ta sẽ lắng nghe, tha thứ tội lỗi họ và chữa lành đất nước họ.” (2 Sử ký 7:14 BHD). Vâng, khi một dân tộc biết khiêm nhường cầu nguyện với Đức Chúa Trời để ăn năn tội lỗi mà quay trở về cùng Ngài, thì ngày sẽ tha thứ và phục hưng đất nước của họ.

Hơn một thế kỷ qua, cơn phấn hưng đã xảy ra tại Đại Hàn và kết quả của cơn phấn hưng đó vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay. Cơ phấn hưng này bắt đầu từ tâm linh hiệp một cầu nguyện của 4 vị Giáo sĩ từ các hệ phái Tin Lành khác nhau. Họ đồng ý ngồi lại cầu nguyện chung xin Chúa ban cơn phấn hưng cho Hội thánh Đại Hàn vào mỗi buổi trưa (noon). Đến cuối tháng, có một vị Giáo sĩ đề nghị chấm dứt buổi cầu nguyện, và mỗi chúng ta hãy cầu nguyện riêng tại nhà cho thuận tiện hơn. Nhưng các vị Giáo sĩ khác chống lại ý đó và khuyên nên dành nhiều thì giờ hơn trong giờ cầu nguyện phục hưng của mỗi ngày. Họ tiếp tục kiên trì cầu nguyện mỗi ngày trong 4 tháng, thì họ bắt đầu đón nhận cơn mưa phước lành tuôn tràn.

3. Hãy Hạ Mình Để Danh Chúa Được Vinh Hiển.

Danh của Đức Chúa Trời sẽ được tôn cao khi công việc quyền năng của Ngài được bày tỏ giữa thế gian . Danh của Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển khi con dân Chúa thể hiện nếp sống đạo của mình giữa cộng đồng và xã hội cách đáng trân quý và ngưỡng mộ.

a) Phấn hưng ảnh hưởng cộng đồng và xã hội.

Cuộc phấn hưng Wesleyan revival tại Anh quốc đã khiến hàng triệu linh hồn được cứu rỗi, đặc biệt là phong trào Trường Chúa Nhật được thành lập, nạn buôn nô lệ chấm dứt, chế độ lao tù được cải cách, luật lao động được thông qua, và nhất là tình trạng đạo đức được cải thiện cách đáng kể. Cuộc phấn hưng Tin lành bắt đầu năm 1857 tại Hoa kỳ và xảy ra tại Vương Quốc Anh vào năm 1859 đã lan xa đến tận nhiều nơi trên thế giới và ảnh hưởng kéo dài ít nhất 40 năm.

Các cơn phấn hưng xảy ra ở Trung Hoa trong 3 giai đoạn: thứ nhất là một phong trào cầu nguyện từ năm 1900 đến 1905; cơn phấn hưng lan tràn nhiều nơi từ năm 1906 đến 1907; và cuộc phấn hưng phi thường xảy ra từ năm 1908 đến 1909, và kéo dài cho đến cuộc cách mạng văn hoá 1911. Năm 1909, cơn phấn hưng khuấy động cả thành phố Kiating nằm ở phía Tây của Trung Hoa. Nhiều người đã ăn năn, xin được tha thứ, và xưng ra những tội lỗi như: thờ thần tượng, trộm cắp, giết người, tà dâm, cờ bạc, hút thuốc phiện, chống nghịch cha mẹ, ghen ghét chủ nhân, tranh cãi, nối dối, và gian lận.

b) Phấn hưng ảnh hưởng đến mục vụ Cơ-đốc.

Cơn thức tĩnh 1858 tại Hoa kỳ giữa các sinh viên đã tạo nên kết quả của sự hình thành Đại Học College of Y.M.C.A. (the Young Men’s Christian Association vào năm 1856, và năm sau đó những buổi cầu nguyện phục hưng tại Oxford và Cambridge dẫn đến sự hình thành cơ quan the Inter-Varsity Fellowship. Tại Anh quốc, the Young Men Christian Association (YMCA) đã được thành lập do George William vào năm 1844.

c) Phấn hưng ảnh hưởng nền giáo dục

Cuộc phấn hưng Wesleyan revival tại Anh quốc đã khiến hàng triệu linh hồn được cứu rỗi, đặc biệt là phong trào Trường Chúa Nhật được thành lập và phát triển một cách nhanh chóng. Những Bài Thánh ca nỗi tiếng cũng được sáng tác bởi ngọn lửa phấn hưng bừng cháy từ những con tim khao khát sự thăm viếng của Chúa Thánh Linh, những tinh thần cầu nguyện phục hưng tâm linh, những sứ điệp giảng Tin Mừng Cứu Rỗi, những tấm lòng cưu mang cho nhiều linh hồn hư mất và những con người đang bị sao lãng.

Các Sử gia Báp-tít đã có đề cập tới những truyền thống ảnh hưởng nền giáo dục của Báp-tít Nam Phương. Truyền thống thứ nhất là “Charleston Tradition”. Truyền thống thứ hai là the “Sandy Creek Tradition”. Truyền thống thứ ba là the “Frontier Revivalist Tradition - Truyền thống sứ giả phục hưng” ảnh hưởng về sự hình thành các Trường học tại tiểu bang Texas, đặc biệt là Đại Học Baylor University và Southwestern Baptist Theological Seminary.

Ngoài ra còn có khoảng 10 phong trào ảnh hưởng đến nền giáo dục của Báp-tít như: 1) The British Baptist; 2) The Princeton; 3) Pietism; 4) Revivalism (phục hưng) ; 5) A confessional tradition; 6) The Truth party; 7) Pastor-theologians; 8) Liberal European; 9) The North American Evangelical trajectory; 10) The Conservative Resurgence. Sứ điệp phục hưng rất được xem là chủ đề rất quan trọng trong đời sống của người Báp-tít, và luôn được nhấn mạnh về sự tái sinh và giảng luận cách năng động. Đây chính là lý do tại sao những nhà lãnh đạo và Mục sư Báp-tít luôn chủ trương những triết lý sống đạo, giảng Phúc Âm Cứu Rỗi, truyền giảng phục hưng và tinh thần cầu nguyện phấn hưng.

Theo Hiệp Hội Oxford của Nghiên Cứu Phục Hưng được hình thành năm 1974, Sử gia Phục Hưng J. Edwin Orr phân tích ý nghĩa giữa hai thuật ngữ thường dùng như: “Sự thức tĩnh tâm linh – A Spiritual awakening” và “Sự phục hưng – Revival”. Theo định nghiã của Sử gia Phục Hưng J. Edwin Orr, “Sự thức tĩnh tâm linh là một phong trào của Đức Thánh Linh mang đến một cơn phục hưng của Cơ-đốc-giáo thời Hội thánh Tân Ước của Đấng Christ và điều đó liên hệ tới cộng đồng tuôn tràn Thánh Linh nhằm hoàn thành sự phấn hưng của Hội thánh, sự thức tĩnh của quần chúng và các phong trào của những người không được giáo huấn đến niềm tin Cơ đốc; Hội thánh phấn hưng, bởi nhiều hay vài người, được cảm động tham gia truyền giáo, trong giáo dục và trong công tác xã hội - A spiritual awakening is a movement of the Holy Spirit bringing about a revival of New Testament Christianity in the Church of Christ and its related community. … The outpouring of the Spirit accomplishes the reviving of the Church, the awakening of the masses and the movements of uninstructed people toward the Christian faith; the revived Church, by many or by few, is moved to engage in evangelism, in teaching and in social action” (J. E. Orr, The Eager Feet, p. vii)

Lịch sử phục hưng đã ghi lại những kết quả và ảnh hưởng không những về sự tăng trưởng Hội thánh, xã hội, kinh tế, mà còn tác động tích cực đến nền giáo dục.

Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Đầu Tiên (The first Great Awakening – 1725-1775) đã kiến tạo một phong trào thành lập nhiều Đại Học tại Hoa kỳ. Theo thống kê cho biết khoảng 100 Đại Học trong số 110 Đại Học Mỹ đã được thành lập cho mục đích huấn luyện thế hệ trên niềm tin Cơ-đốc. Cuộc Thức Tĩnh Tâm Linh chính là động lực tác động mạnh về mối quan tâm xây dựng một số Trường Đại Học nỗi tiếng tại Hoa kỳ như Đại Học Princeton University do Giáo hội Trưởng Nhiệm (Presbyterian) thành lập vào năm 1746, Đại Học Brown University (Rhode Island College) do Giáo hội Báp-tít thành lập vào năm 1764, Đại Học Rutgers University (Queents College) được thành lập do Giáo hội Cải Cách Hoà Lan (Dutch Reformed) xây dựng vào năm 1766, và Đại Học Dartmouth do Giáo Hội Chúng Eleazar Wheelock thiết lập vào năm 1769.

Jonathan Edwards, William Tennent và nhiều nhà lãnh đạo phục hưng khác đã phát động ý tưởng phát triển giáo dục. Sáu Đại Học đã được thiết lập trực tiếp hay chịu ảnh hưởng gián tiếp từ Cuộc Thức Tĩnh Thứ Nhất (Tewksbury, The Founding of America Colleges and Iniversities, 58).

Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Nhì (The Second Great Awakening – 1790-1840) đã tạo nên một làn sóng phấn hưng tâm linh qua những buổi truyền giảng phấn hưng, và các phong trào cầu nguyện phục hưng xuyên qua vùng Kentucky, Tennessee và Miền Nam Ohio. Dưới sự lãnh đạo của các Sứ giả Phục hưng như Charles Grandison Finney, Lyman Beecher, Barton Stone, Peter Cartwright and James B. Finley, phong trào này đã giúp nhiều Hội thánh của Giáo Hội Báp-tít và Giám lý (Methodist) tăng trưởng thêm hàng triệu tín hữu vào Hội thánh. Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Nhì này đã để lại những dấu ấn của các tổ chức tôn giáo theo chủ thuyết truyền thống Calvanist tradition nhấn mạnh về sự đồi bại của con người và con người chỉ có thể được cứu rỗi bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Trong Cuộc Thức Tĩnh này có sự tham gia tích cực và chủ động do những phụ nữ người Da trắng và người Mỹ gốc Phi châu. Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Nhì đã tác động những nỗ lực thiết lập một số Cơ quan Cơ đốc Truyền Giáo như: American Home Missionary Society (1826), American Bible Society (1816), The American Tract Society (1826), American Board of Commissioners for Foreign Missions (1810), và Cơ quan Giáo dục Tin Lành - American Sunday School Union (1817).

Một đánh dấu khá quan trọng qua Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Nhì, hệ thống giáo dục Giáo dục Khiếm Thính (Deaf Education) và Giáo dục Khiếm Thị (Blind Education) đã ra đời.

Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Ba (The Third Great Awakening – 1850-1900) đã ghi lại những dấu ấn rất ngoạn mục, mang đến sự ảnh hưởng lớn rộng giữa vòng các Hệ phái Tin Lành trên nước Mỹ về các lãnh vực như: giáo dục, kinh tế, chính trị, mục vụ xã hội, truyền giáo, và Hội thánh tăng trưởng sâu rộng (như các chiến lược: “the circuit-riding system of the Methodists, the Baptist farmer preachers, the campus revivals of the eastern seaboard, the camp meetings in the West, the new measures of Charles G. Finney, the Layman's Prayer Revival, urban mass revivalism of D. L. Moody, and the Student Volunteer Movement.”). Cuộc Thức Tĩnh Thứ Ba này nhấn mạnh khá nhiều về Phúc Âm Xã hội (social Gospel) và các vấn nạn xã hội như đồng tính, phá thai, nghiện ngập và các hình thức khiêu dâm.

Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Tư (The Fourth Great Awakening – 1960-1980) xảy ra trong thời điểm mà các Giáo hội Dòng Chính – Mainline Protestant Churches bị suy yếu, trong khi những Hệ phái Tin Lành chủ trương Bảo Thủ (Conservative denominations) như Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist), Missouri Synod Lutheran phát triển lan rộng khắp nước Mỹ cách nhanh chóng.

Các Sử gia đã minh chứng rằng Cuộc Thức Tĩnh Vĩ Đại Thứ Nhì và Thứ Ba mang tính ảnh hưởng về chiến lược phấn hưng và truyền giảng Tin Lành đến Hội thánh Đại Hàn.

Học giả phục hưng J. Edwin Orr tin rằng ảnh hưởng của cơn phục hưng từ năm 1857 đến năm 1859 có khoảng một triệu người tin nhận Chúa; trong thời điểm này dân số Hoa kỳ có khoảng 30 triệu người. Số tín hữu gia tăng đã được kiểm chứng qua thống kê của các hệ phái Tin Lành. Điển hình, Giáo hội Báp-tít Nam Phương mở mang thêm khoảng 650 Hội thánh mới; dựa theo Luận Án của Tiến sĩ Roy Fish, “Cuộc Thức Tĩnh năm 1858 và Tầm Ảnh Hưởng Trên Giáo Hội Báp-tít tại Hoa kỳ - The Awakening of 1858 and Its Effects on Baptist in the United States” (Th.D. Diss, Southwestern Baptist Theological Seminary, 1963), 228-229).

Charles G. Finny, Sứ giả phục hưng của thế kỷ 19, định nghĩa phục hưng là “Sự làm tươi mới của tình yêu ban đầu của Cơ-đốc-nhân, là kết quả ở sự thức tỉnh và tin nhận của những tội nhân của Đức Chúa Trời. Điều đó không gì khác hơn là một sự khởi đầu của lòng vâng phục Đức Chúa Trời - the nenewal of the first love of Christians, resulting in the awakening and conversion of sinners to God. It is nothing else than a new beginning of obedience to God” (Revivals of Religion, Moody Press, pp. 14-15).

Bí quyết để đón sự thăm viếng của Chúa Thánh Linh nếu “lúc ấy nếu dân Ta, dân được gọi bằng danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta và ăn năn từ bỏ con đường gian ác thì Ta từ trên trời sẽ nghe, tha thứ tội lỗi chúng và chữa lành đất đai của chúng.” (2 Sử ký 7:14 BDM).

“Vậy, hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên;” (1 Phi-e-rơ 5:6). Lạy Chúa, Xin Ngài Hãy Phục Hưng Tâm Linh của chính con!

Mục Sư Ngô Việt Tân

(trích từ QUYỂN SÁCH "NHỮNG SỨ ĐIỆP PHẤN HƯNG - THE MESSAGES OF REVIVAL" Tác giả Mục Sư NGÔ VIỆT TÂN. 2016)

 
Các bài trước:
CHÚC NHAU: PHƯỚC LỘC THỌ
DÀNH MỘT CHỖ CHO CHÚA
TÌNH TRỜI YÊU ĐẤT
THỜ LẠY NGÀI
TÌM NĂNG LỰC SỐNG TỪ ĐÂU?