SAU NẦY CON SẼ BIẾT
Mục sư Nguyễn Văn Huệ

Lời giới thiệu

Sống Đạo xin hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả: Bút Ký SAU NẦY CON SẼ BIẾT của Mục sư Nguyễn Văn Huệ

Giá bán $10 USD
Địa chỉ liên lạc:
Huong Di Magazine
P.O. Box 570293
Dallas, TX 75357

MS Nguyễn Văn Huệ
(C) 469-506-8027
Email: huevan@juno.com

BÚT KÝ

Cuốn sách mới của Mục sư Nguyễn Văn Huệ có vẻ như là một cuốn hồi ký. Hồi ký thường là của một người đã đi qua một thời vang bóng, chuẩn bị đi vào dĩ vãng. Tôi không bao giờ nghĩ rằng những trang viết này của Mục sư Nguyễn Văn Huệ là hồi ký, vì bóng ông vẫn còn vương trên đường, vang trong gió, một người còn đang đi vào tương lai. Những trang viết này, nếu gọi cho thật đúng, thì nó là một bút ký, là những ký thuật về những gì đã qua, đang có và còn đến. Ông đã viết, đang viết và vẫn còn viết. Ông đã đi, đang đi và vẫn còn đi. Sức viết còn rất mạnh và văn còn rất bén, nếu không nói là càng lúc càng bén, như gừng càng già càng cay. Tôi đọc những bài viết của ông, vẫn còn cảm thấy bị đụng chạm bởi một sức mạnh, và bị chảy máu bởi sự đâm thủng. Vì ông đọc sách nhiều, những bài viết đầy dẫy những ý niệm uyên bác từ các bậc thầy viết lách. Vì ông viết nhiều, những bài viết là những cuốn sách trên những kệ sách kinh nghiệm mà các hậu sinh có thể tìm học. Nhưng tôi có thể nói thêm rằng Mục sư Huệ là người viết truyền đạo đơn hay nhất trong số những người viết truyền đạo đơn trong suốt chiều dài lịch sử Tin lành Việt Nam. Nhiều người đã tin Chúa qua những truyền đạo đơn ngắn gọn mà súc tích của ông.

Ông còn đi, còn viết, nghĩa là những trang sách này sẽ lại được nối dài ra, như những cánh tay của biển...

MỤC SƯ LỮ THÀNH KIẾN

Đọc SAU NÀY CON SẼ BIẾT

Khi bà Anne cầu khẩn xin Đức Chúa Trời cho mình có một người con, bà nguyện, “Tôi sẽ dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời nó.” Tiên tri Sa-mu-ên, con bà An-ne, đã lớn lên như vậy, trong sự ban phước trọn vẹn của Chúa. “Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu, thắt lưng một cái ê-phót bằng vải gai. Mỗi năm mẹ người may cho một cái áo dài nhỏ, đem ban cho người trong khi đi lên với chồng đặng dâng của lễ hằng năm” (ISamuên 2:18-19).

Mục Sư Nguyễn Văn Huệ được ơn Chúa, được sinh ra trong gia đình có nội, ngoại, cha mẹ là những người tin kính, hết lòng yêu mến Chúa. Ông đã lớn lên bằng tình yêu ngọt ngào của Ngài, và bằng sự chăm sóc thuộc linh kỹ lưỡng từ ông bà, cha mẹ. Thời thơ ấu êm đềm và phước hạnh với vùng quê có sông có biển có núi có đồi, có cát trắng, có nương khoai như thơ như nhạc, như ông mô tả, là những yếu tố sau này giúp ông yêu văn chương nhiều hơn và được Chúa dùng cho công việc chữ nghĩa nhiều hơn. Từ tình yêu của gia đình, của Hội Thánh, của bà con chòm xóm, và trên hết là từ tình yêu Thiên Thượng, những đóa hoa ngát hương đã trổ trên cuộc đời ông, cho dù ông phải gánh chịu sóng gió, nhọc nhằn do người thế gian mang đến cho ông sau này.

Trong chương bốn của tác phẩm này, Mục Sư Nguyễn Văn Huệ viết, “người sống thật thà ngay thẳng, ưa công lý, chuộng tự do, thích rao giảng chân lý và hay nói thật, sống trên đời nầy không dễ”. Mà thật vậy, ông đã bị đi tù từ năm 1978 đến năm 84 mới được thả cũng chỉ vì những lý do trên, chỉ vì yêu chân lý, muốn rao giảng Tin Lành cho người chưa được cứu.

Giã từ công việc của một người thông dịch nhiều thu nhập, chàng thanh niên tuổi đời còn rất trẻ quyết tâm chính thức bước vào con đường phụng sự Thiên Chúa. Chuyện tiếp chuyện, cuộc đời của chàng sinh viên thần học viện cho đến khi trở thành Mục Sư với bao gian nan thử thách, được tác giả kể lại một cách rất chân tình và rất hấp dẫn. Bắt đầu từ chương bốn trở đi, câu chuyện về những Hội Thánh ở thành phố được mệnh danh thơ mộng nhất miền nam, về anh em tín hữu người Thượng, những khó khăn của người hầu việc Chúa sau tháng tư năm bảy lăm, và nhất là về đoạn đời tù ngục của ông khiến người đọc không muốn bỏ dở nửa chừng. Với một chút óc khôi hài khi đọc đến những chương này, tôi nghĩ bụng, xem chừng ra ông Giô-sép ở tù có vẻ… sướng hơn nhiều. ( ). Bởi vì Giô sép đã được tự do giải mộng, mà còn nói nhiều điều xem ra dễ bị ám hại nhưng chẳng ai làm gì ông, trong khi đó thì Mục Sư Huệ của chúng ta chỉ thì thầm nhắc đến chuyện tích giáng sinh và cầu nguyện chung với anh em trong tù, lại bị biệt giam, bị nhốt trong “chuồng cọp” hai tuần vì có người báo cáo.

Tuy nhiên cho dẫu xã hội và con người muốn nhận chìm người thích rao giảng chân lý, muốn bách hại tới đâu đi nữa, vẫn không thể nào giam cầm, bắt bớ người mà Chúa đã yêu. Sau khi Mục Sư Nguyễn Văn Huệ được phóng thích, Chúa mở đường cho ông để ông có cơ hội hầu việc Ngài nhiều hơn. Rồi sau đó lại được sang Hoa Kỳ do Hội Thánh Báptít Đức Tin Dallas mời làm quản nhiệm, một điều rất khó tin có thể xảy ra vì trước đó Mục sư đã bị từ chối phỏng vấn do ông không thuộc diện H.O. cũng không là con lai, hay gia đình có con lai.

Thật là kỳ diệu khi Chúa đã sử dụng ông trong những công tác vĩ đại trong khi ông những tưởng đời mình chỉ dừng lại ở bốn bức tường nhà giam, hay cùng lắm là chỉ được phục vụ Ngài cách âm thầm ở trong xứ của mình. Chúa đã ban cho bàn chân ông được đi khắp thế giới, được tự do thực hiện mạng lịnh của Ngài, giảng Tin Lành cho mọi người, và dạy họ trở thành môn đồ của Ngài. Những chuyến truyền giáo của ông đi xa đến tận những nước mà Tin Lành bị nghẹt ngòi, những xứ bị Cộng sản thống trị nhiều năm như Nga, như Việt Nam, những xứ Hồi giáo như Mã Lai, và ngay tại cả những xứ hoàn toàn được tự do về tín ngưỡng và tôn giáo nhưng đạo Chúa càng lúc càng suy đồi như Úc, như Hoa Kỳ, xứ sở ông đang định cư. Có thể nói những chương trình, những công việc ông đang thực hiện, vượt lên sự mơ ước của chính ông và của nhiều tín hữu, nhiều tôi tớ Chúa. Tại Hoa Kỳ, ông được chọn để thông dịch bài giảng của các giáo sĩ nổi tiếng thế giới như Billy Graham, đã tham dự những chiến dịch truyền giáo thế giới. Đối với cộng đồng Việt Nam tại Mỹ, ông xây dựng đặc san Hướng Đi, đem truyền thống văn hóa Cơ Đốc đến đồng hương, làm những chương trình “Sách Nhỏ Truyền Đạo”, chương trình “Kính Lão Đắc Thọ”, vân vân. Ông lại lập ra quỹ từ thiện Hướng Đi, xây những ngôi nhà tình thương giúp đỡ con cái Chúa qua những cơn ngặt nghèo tại Việt Nam. Mới đây nhất ông khởi sự chương trình VMI (Vietnamese Mission Institute) với những mô hình mới, phù hợp với người Việt Nam, tâm tình người Việt Nam, và sự khát khao của người Việt Nam.

Mô hình “NGỒI ĐỨNG ĐI. Ngồi để thờ phượng Chúa, đứng lên để phục vụ và ra đi để truyền giáo, tìm người hư mất” như ông viết trong chương mười, song song với sự hoạt động cùng với Hội Thánh Truyền Giáo Trên Đường Dây đang được Chúa ban phước tràn đầy. Nhiều tín hữu, nhiều tôi tớ Chúa đã tham gia và đã được sự xức dầu từ Ngài.

Hành trình một cuộc đời, hành trình những chuỗi ngày dài hầu việc Chúa được Mục Sư Nguyễn Văn Huệ ghi lại trong “Sau Này Con Sẽ Biết”. Xuyên suốt mười sáu chương và hai phụ lục khác của cuốn sách, người đọc sẽ thấy được những phần đời nghiệt ngã tù đày, cho đến căn bịnh ung thư mà Mục Sư Huệ phải chịu đựng và được Chúa chữa trị, tiếp theo đó là những công việc và sứ mệnh mà Chúa đặt để trên ông, càng thấy rõ hơn những ơn phước Chúa ban cho ông và gia đình.

Tôi không làm công việc điểm sách, nhưng dẫu có điểm sách, vẫn chưa nói hết được những gì bạn có thể tìm thấy. Ngẫm lại lời Ngài, “Thì hãy kính sợ Ðức Giê-hô-va, lấy hết lòng trung tín phục sự Ngài; Vì khá xem những việc lớn lao mà Ngài làm cho các ngươi là dường nào." (I Samuên 12:24), tôi biết Chúa không những chỉ ban phước trên đời sống của Mục Sư Nguyễn Văn Huệ, mà còn nhận ra ngòi bút ông mỗi ngày một sắc sảo hơn. Tôi lại càng tin chắc chắn rằng khi gấp cuốn sách lại, quí vị sẽ thấu đáo được quyền năng của Chúa, điều lớn Chúa làm trên đời sống của tôi tớ Ngài, hoàn toàn vượt lên trên tất cả những hiểu biết của con người.

HOÀNG NGA
Nhà Văn

CHÚA GIÊ-SU LÀ CHỦ ĐỜI TÔI

Tôi tự thấy mình như là hiện thân của đau khổ và phước hạnh. Đau khổ trong thân phận người Việt Nam và phước hạnh trong thân phận một đầy tớ của Chúa Cứu Thế Giêsu.

Có một tác giả vô danh đã viết như sau: “Có một người được sinh ra trong một ngôi làng nhỏ, con của một cô gái quê, lớn lên tại một làng khác và làm nghề thợ mộc cho đến năm 30 tuổi. Người đó chưa hề viết một quyển sách, hay giữ một chức vụ công quyền, không sở hữu một ngôi nhà, cũng không lập gia đình. Người đó không học đại học, không hề rời quê hương hơn 200 dặm nhưng chỉ đi giảng đạo có ba năm. Và khi chỉ mới 33 tuổi thì đã bị người ta giết bằng bản án tử hình. Sau khi bị hành hình, thì áo xống lại bị người ta bắt thăm chia nhau, mượn ngôi thạch mộ của một người khác để chôn. Thế nhưng, cho dù tất cả những đội quân đã từng diễn hành, những hạm đội đã từng lướt sóng, những nhà lập pháp đã từng lăn lộn ở nghị trường, các vua chúa đã từng cai trị, tất cả kết hợp lại vẫn không tạo được một ảnh hưởng lớn trên nhân loại bằng ảnh hưởng sâu rộng của người. Đó là con người độc nhất!”

Con Người siêu việt đó chính là Chúa Cứu Thế Giê-su. Nhờ Ngài mà mọi dân, mọi nước giao thông được cùng Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su duy nhất là đường đi, chân lý và sự sống cho cả loài người.

Tôi không quên được câu nói khẳng định của Chúa Giêsu: “Các ngươi thờ sự các ngươi không biết, chúng ta thờ sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Do Thái mà đến.” Tôi tin lời tuyên bố của Chúa Giê-su. Tôi nghĩ nếu sự cứu rỗi bởi người Do Thái mà đến thì chắc chắn sự cứu rỗi không thể đến từ người Ấn Độ hay từ người Trung Hoa được. Sự cứu rỗi cũng không thể đến từ người Việt Nam. Sự cứu rỗi chỉ đến qua Chúa Giê-su, một người Do Thái. Đó là lý do tôi chọn truyền thống Judeo-Christian để xây dựng đời sống tôi và gia đình tôi. Người Âu Châu, Úc Châu lẫn Mỹ Châu đều chọn truyền thống tinh thần nầy.

Triết gia Đan Mạch Soren Kierkegaard đã kể câu chuyện về một vị vua đem lòng yêu thương một thiếu nữ nhà quê. Vị vua nầy là người giàu nhất, có quyền lực nhất và được kính trọng nhất. Không ai dám chống lại vua hay nói xấu được về vua. Nhưng vị vua có một nan đề: - “Làm sao vua có thể tỏ tình với cô thôn nữ? Và làm sao vua có thể biết chắc là cô ấy cũng yêu vua?”

Chính ngôi vua và sự giàu sang, quyền thế của vua đã là một trở ngại. Vua không muốn dùng những đặc quyền đó để mua chuộc trái tim của cô thôn nữ. Vua muốn cô yêu mình vì chính mình chứ không phải vì địa vị hay của cải vật chất. Vua không muốn chinh phục người yêu trái với ý chí tự do của người mình yêu. Vua đã tìm được cách để trở nên ngang hàng với người yêu.

Vua đã ăn mặc rách rưới và đến với cô như một người nông dân. Nhưng điều kỳ diệu là: Vua không chỉ giả trang như một người nghèo. Vua đã thực sự trở thành người nghèo! Vua đã yêu cô thôn nữ tha thiết quá đến nỗi đã từ chối ngai vàng và quyền thế của mình. Cuối cùng vua đã chinh phục được tình yêu từ cô thôn nữ ấy!

Câu chuyện nầy là một minh họa đẹp đẽ về mối tình của Chúa Cứu Thế dành cho nhân loại chúng ta. Chúa Cứu Thế đã chinh phục tình yêu của tôi và tôi đã yêu Ngài. Hàng tỉ người trên thế gian đã được Ngài chinh phục và yêu Ngài theo cách ấy. Bạn đã đón nhận được tình yêu của Chúa như thế chưa?

Có chuyện kể rằng lần đầu khi nhà thám hiểm Columbus và các thủy thủ cập tàu vào cửa sông Amazon. Một thủy thủ nói: “Chúng ta đã khám phá được một hải đảo.” Nhưng Columbus nhìn chung quanh và nói: “Không, chúng ta đã khám phá một châu lục mới. Một cửa sông to như thế không thể phát xuất từ một hòn đảo được!”

Câu nói đó của Columbus mang nhiều ý nghĩa đối với tôi. Tôi đã khám phá và tin tưởng: Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời hiện thân thành người. Ngài chịu chết, được chôn và sống lại.Ngài đã giải cứu tôi thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi, Ngài giải phóng tôi thoát khỏi xiềng xích của Ma Quỷ, Ngài là chủ của đời tôi. Tôi lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa. Tôi sung sướng được bước theo Ngài. Tôi thấy hân hạnh được hầu việc Chúa.

Mục đích của đời sống tôi là làm vinh hiển Chúa và vui hưởng chính mình Ngài mãi mãi.

Phương châm của đời sống tôi là học đạo, sống đạo và truyền đạo. Tinh thần truyền giáo của tôi là không biên cương.

Kinh nghiệm sâu sắc nhất của đời sống tôi là “Đức Tin nhận được nhiều nhất, Yêu Thương làm được nhiều nhất và Khiêm Nhường giữ được nhiều nhất.”

Tôi biết chúng ta sống nhờ lời hứa của Chúa chứ không phải nhờ những lời giải thích.

Mơ ước của tôi là bạn, người đang đọc sách nầy cũng được Chúa ban ơn cứu rỗi như tôi và một ngày kia, bạn và tôi sẽ cùng hội ngộ ở Thiên Đàng

Mục sư NGUYỄN VĂN HUỆ

MỤC LỤC

Lời Giới Thiệu...................................................trang 09

1. Được Nghe Tiếng Chúa Trong Tù.........................17
2. Tin Lành Với Người Việt Nam.................................26
3. Gia Đình Tôi Theo Chúa..........................................39
4. Một Cuộc Đổi Đời.....................................................51
5. Được Thông Dịch Bài Giảng Của M S Billy Graham..82
6. Được Chúa Chữa Lành Bệnh Ung Thư...................89
7. Được Dự Phần Mở Mang Công Việc Chúa..............96
8. Được Hiệp Tác Để Làm Việc Lớn............................120
9. Học Trả Lời Những Câu Hỏi Khó..............................130
10. Động Lực Cứu Người..............................................135
11. Những Chuyến Đi Xa..............................................148
12. Chuyến Đi Đại Hàn Lần Đầu..................................164
13. Bài Học HT Đại Hàn Và Những Lý Do Phát Triển ...213
14. Chúa Dẫn Tôi Đi Úc và Đi Nga................................227
15. Dạy Để Cứu Những Cuộc Đời................................257
16. Chúa Tiếp Tục Dẫn Dắt Tôi Đi.................................267
Phụ Trang 1: Đặc San Hướng Đi..................................281
Phụ Trang 2: Hoa Nở Trong Bóng Tối...........................287