Ta-Ma, “Kỵ Nữ” Bên Vệ Đường Người Nữ của Niềm Tin và Hy Vọng
Thiên Hương

Lời giới thiệu

Sống Đạo trân trọng giới thiệu sách mới:

Ta-Ma, “Kỵ Nữ” Bên Vệ Đường
Người Nữ của Niềm Tin và Hy Vọng

Do tác giả Thiên Hương, Tiến sĩ Thần học, sáng tác và phát hành năm 2016. Sách dầy 188 trang, không ghi giá bán, chỉ nhận dâng hiến (donation).

 

Liên lạc tác giả:

 

THIÊN HƯƠNG

1007 Monroe St.

Endicott, NY 13760

huongdon@msn.com
607-754-1710

 

LỜI NÓI ĐẦU

Tôi cảm tạ Chúa không thôi vì ơn thương xót của Ngài, sau quyển thứ nhứt Nhân Một Chuyến Đi Về, mang tính cách cá nhân chứng đạo, xuất bản năm 2007, Chúa đã cho tôi tuần tự thực hiện được ước mơ của mình là viết về cuộc đời của năm người nữ trong gia phả của Chúa Cứu Thế Jêsus: TA-MA, RA-HÁP, RU-TƠ, BẾT-SÊ-BA, VÀ MA-RI.

Ma-Ri là người nữ cuối cùng, được ơn phước cưu mang Hài Nhi Thánh.  Cuộc đời của bà đã gắn liền với cuộc sống trên đất trong ba mươi ba năm của Chúa Cứu Thế Jêsus, và là quyển thứ hai Ma-Ri, Người Nữ của Sự Vâng Phục, Người Mẹ Được Phước xuất bản năm 2012. Việc viết lách tạm gián đoạn vì chuyện học hành, thi cử, nhưng tình yêu thương của Chúa vẫn tuôn tràn cho những ai hết lòng tìm cầu, nài xin, Chúa cho tôi được miệt mài viết về những ước nguyện của mình. Hai quyển: Ta-Ma; “Kỵ Nữ” Bên Vệ Đường -Người Nữ của Niềm Tin và Hy Vọng, người nữ đầu tiên và Ra-Háp; Kỵ Nữ Thành Giê-Ri-Cô, Người Nữ của Đức Tin và Việc Làm, người nữ thứ nhì được hoàn tất trong cùng một năm 2016. 

Hai kỵ nữ, trong cùng chung một mục đích thực thi chương trình và Thánh Ý của Đức Chúa Trời, nhưng cuộc đời của Ta-ma và Ra-háp mang hai tính chất rất khác biệt. Qua Ta-Ma, Chúa dạy rằng con người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tưởng chừng như bế tắc, chẳng còn lối thoát ra, Chúa vẫn ban cho Niềm Tin và Hy Vọng để sống, nhưng không phải sống chỉ để hưởng thụ, để chỉ kéo dài cuộc sống thuộc thể, vật chất thế gian, mà sống để chiêm nghiệm được năng quyền của Chúa và vâng phục theo Lời dạy của Ngài. Qua Ra-háp, Chúa cũng dạy rằng, con người dù xấu xa, tội lỗi đến như thế nào, dù là một cánh sen nhô lên từ chốn bùn nhơ, Chúa vẫn cho cơ hội ăn năn, cho một con đường sống nhưng cũng không phải sống để tìm kiếm lại những vật chất phù du đã mất trên đất, mà sống để thấy được tình yêu cao vời vợi của Chúa trên đời sống của mình, nếu biết tin cậy, vâng lời bằng Đức Tin Thật và Hành Động Cụ Thể.  

Cùng là kỵ nữ, dù giả dạng hay thực chất, tuy không trong sạch, không thánh khiết, tuy đi ngược dòng, nhưng cả Ta-Ma và Ra-Háp đều nhận được những phần thưởng xứng đáng của Chúa.  Cả hai đều là cố tổ mẫu trong gia phả của Chúa Cứu Thế Jêsus, gia phả của một vì Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa.  Cuộc sống của cả hai bà đã dược “đổi đời”, chỉ với duy nhứt một nguyên nhân đơn sơ: họ đã nghe được Tiếng Phán của Chúa, “Bấy giờ các ngươi sẽ kêu cầu ta, sẽ đi và cầu nguyện ta, và ta sẽ nhậm lời. Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng” (Giê. 29: 12-13).  Cũng một thể ấy, người dân Chúa ngày hôm nay, những ai nghe được lời mời gọi thiết tha của Chúa Jêsus, “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, cửa sẽ mở cho. Bởi vì, hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ cửa thì dược mở” (Matt. 7: 7-8).   Câu trả lời?  Sự đáp ứng?   Mỗi người tự quyết định.

Cùng với sách Ma-ri và hai sách còn lại Ru-Tơ, Nàng Dâu Đức Hạnh, Người Nữ của Tình Yêu Thương; Bết-Sê-Ba, Người Vợ Ngoại Tình, Người Nữ Nhận Được Ân Điển, hoàn toàn dựa trên Thánh Kinh, nhưng những tình tiết, cách hành văn, dùng từ, diễn ý đều mang âm hưởng của lối văn hiện đại để tránh sự khô khan, khó hiểu của những sự kiện có thật trong thế giới loài người, từ bao nhiêu ngàn năm trước. 

Trong khả năng hạn hẹp, dù dành rất nhiều thì giờ chăm sóc, chọn lọc, nhưng chắc chắn không tránh được những thiếu sót về mọi mặt, tác giả kính mong người đọc vui lòng tha thứ và xin đón nhận được những ý kiến xây dựng thẳng thắn, để có thể làm tốt hơn trong những tác phẩm sau nầy.  Một lần nữa, cũng nhằm vào việc truyền bá Phúc Âm, sách không đề giá bán, chỉ mong nhận được sự đóng góp tùy tiện từ tấm lòng của người đọc, vì ngân khoản thu được sẽ dâng hiến vào những công việc Chúa cần và ở những nơi Chúa khải thị, “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8: 28a).  Ngoài việc cảm tạ Chúa không thôi, tác giả xin được luôn chân thành tri ân:

            Mục sư Tiến Sĩ Phạm Văn An, người thầy khả kính đã khổ công dẫn dắt trên linh trình trong mấy mươi năm đèn sách, cùng quí vị Mục sư và anh chị em đồng môn trường đạo cũng như trường đời, đã giúp đỡ, khuyến khích nhiều mặt từ tinh thần lẫn vật chất.

Mục sư Lữ Thành Kiến đã một lần viết Lời Tựa cho sách Ma-ri, nhiệt tình giới thiệu việc in ấn, nơi in ấn để cả người viết lẫn người đọc đều có khả năng cùng hầu việc và phục vụ Chúa.

Mục sư Lê Sơn Hổ, Quản Nhiệm Hội Thánh Báp-tít tại Binghamton, New York đã dành nhiều thì giờ chăm sóc bản thảo, góp ý, nhuận bút trong thời gian kỷ lục.

Bà Lê Tuyết Loan, người chị tinh thần trong Chúa, chủ bút tập san Suối Thiêng, đã đặt bút hiệu Thiên Hương ngay từ lúc ban đầu, và là người đầu tiên khơi nguồn, gợi ý để tác giả có thể viết loạt bài về cuộc đời của năm người nữ trong gia phả của Chúa Cứu Thế.

Nhà văn Hoàng Nga, một nhà văn Cơ-đốc, luôn chuyên chở Thánh Kinh Thần Học vào trong những văn phẩm viết về đời của chị hầu làm sáng danh Chúa, đã sốt sắng nhận viết Lời Tựa cho quyển Ta-Ma.

Truyền Đạo Phạm Ngọc Hạnh, một trong những người bạn nữ, cùng lứa tuổi mà tóc muối nhiều hơn tiêu, nhưng Chúa vẫn thương, thêm sức, kêu gọi đến trường để được huấn luyện, trang bị cho việc phục vụ Chúa, và đã cùng nhau chia sẻ nhiều kỷ niệm vui buồn thân thương của mười năm đèn sách.  Chị rất vui khi nhận lời viết Lời Tựa cho sách Ra-Háp.

James Stewart, anh em trong Chúa đã phụ giúp rất nhiều trong việc tiến hành của sách.

Huyên Lê, đã dành số lớn thì giờ trong sự vật vã của cuộc sống hằng ngày, để góp phần tích cực vào công việc Chúa chung.

Dalena Gia Hân Nguyễn dù bận rộn với những tháng ngày bắt đầu Đại Học nhưng có tâm tình làm việc cho Chúa, miệt mài thời gian minh họa những bức tranh mang lại sự phong phú, làm sáng tỏ ý nghĩa của các cốt truyện.

Leilani Ngọc Nguyễn cũng dành thời gian hè vui chơi thoải mái, cho công việc Chúa qua việc tìm tòi và cấu tạo những màu sắc hài hòa cho các bìa sách.

Jennifer Nhi Nguyễn đã có những ý kiến mới lạ, phụ giúp cho việc hoàn tất các tranh vẽ.

Nguyễn Kỳ Thiên Sơn, Bùi Thị Như Ngọc, công ty Thiết Kế và In Ấn Cầu Vồng, đã làm việc cách tốc hành trong một thời gian thật hạn hẹp để công việc Chúa được hoàn tất cách tốt đẹp, qua những tư tưởng phong phú, những ý kiến xây dựng, cùng những nét chấm phá nhẹ nhàng, tạo cho các bìa của sách thêm duyên dáng, mang nhiều tự tình quê hương đất Việt.

Và cuối cùng là sự trợ giúp vượt thời gian, vượt không gian của người phối ngẫu, Mục sư Donald L. Holmes

                                                                                  Thân kính trong Chúa
                                                                                                          Thiên Hương

LỜI TỰA

Có thể nói sự xuất hiện của nhân vật nữ trong Kinh Thánh thường rất mờ nhạt. Không như Áp-ra-ham, không như Môi-se, không như Đa-vít, không như Sa-lô-môn, hoặc ngay cả không như Sam-sôn…, những anh hùng, những vị vua, những kẻ tài ba lỗi lạc, mà người không có đạo cũng biết danh, thì một số phụ nữ được nhắc đến trong Kinh Thánh, có lúc còn không có cả tên. Họ có thể chỉ là “người đàn bà bên giếng nước”, là “mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài”, là “người đàn bà bị bịnh mất huyết”,…v.v. Những người nếu được kể là nổi bật thì cũng chỉ một vài, như bà Ma-ri, bà Ê-xơ-tê, bà An-ne, bà Ru-tơ…, Và ngoài chuyện bà Ru-tơ được viết thành sách Ru-tơ, chuyện bà Ê-xơ-tê có sách Ê-xơ-tê; nhìn lại, những câu chuyện về phụ nữ chỉ được nhắc đến trong đôi ba đoạn, dăm câu, hoặc lắm lúc chỉ thấp thoáng đâu đó trong Kinh Thánh.

Sự “mờ nhạt” này gần như là chuyện “bình thường”, vì cho đến ngày nay khi đi nhà thờ, ngoại trừ ngày lễ mẫu thân, ngày Tết, Giáng Sinh hay Phục Sinh…, hi hữu lắm, đặc biệt lắm, tín đồ mới được nghe những bài giảng về phụ nữ, về tính cách và sự thuận phục Chúa của phái yếu. Và sự “bình thường” ấy đã trở thành quen thuộc, đến nỗi phụ nữ trong Hội Thánh chẳng bao giờ để tâm thắc mắc, cũng chẳng đòi hỏi, mà ngược lại, khi được nghe nhắc đến gương trung tín, gương phục vụ Chúa cách hết lòng của người nữ trong Kinh Thánh, lắm người còn mừng rỡ, vì thấy Chúa có… đoái hoài đến mình, thấy Mục Sư có… nghĩ đến sự đóng góp của phái nữ cho nhà Chúa.

Đã không được nhắc nhở nhiều, không được nêu gương nhiều như nam giới, lắm khi những người nữ trong Kinh Thánh lại là những “người đàn bà tà dâm”, là “người ngu muội” (Gióp 3: 9-10), là kỹ nữ, là Đa-li-la người hại quan xét Sam-sôn đến chết, là một Ra-chên ăn cắp đồ vật của cha mình khi cùng chồng chạy trốn khỏi nhà cha, là vợ Lót không nghe lời Chúa để bị hóa thành tượng muối... Và hẳn nhiên câu chuyện của bà Ê-va phạm tội khiến loài người đã bị rủa sả cho đến tận ngày hôm nay càng không thể bỏ qua.

Sách lịch sử và những sách dựa theo Kinh Thánh viết về phụ nữ, thường nêu gương cao trọng, gương phụng sự, gương trung tín của quý bà. Nếu một nhà giải kinh hay một nhà văn nào đó muốn nghiên cứu, muốn viết về những nhân vật nữ trong Kinh Thánh như Ru-tơ, Ê-xơ-tê hay Ma-ri, có lẽ sẽ không mấy khó để tìm tài liệu. Bởi vì tên tuổi, và những câu chuyện liên quan đến họ được nhắc khá nhiều, những việc họ làm đều rất tốt lành, gương họ nêu lên rất sáng, rất rõ ràng, giản dị và dễ thuyết phục.

Vì thế khi một câu chuyện khá bất thường ở Sáng Thế Ký 38: 1-30, kể lại tội lỗi và sự hổ thẹn của Giu đa, đã làm cho nhiều người lên tiêng rằng đó là một đoạn Kinh Thánh không cần thiết để ghi lại. Nhiều người khác còn khẳng định sự có mặt của phân đoạn này đã khiến cho Kinh Thánh có vẻ như “không được thánh khiết toàn vẹn”. Bởi vì ngay từ câu thứ hai đã bắt đầu chuyện Giu-đa kết hôn với người ngoại, sanh được ba con trai nhưng lại là những người con trai độc ác trước mặt Đức Chúa Trời. Sang đến câu thứ bảy, thì Ê-rơ, con trai trưởng không đẹp lòng Đức Chúa Trời ấy vừa mới kết hôn với Ta-ma đã bị Ngài ra tay giết chết đi vì làm lắm điều ác. Câu chuyện càng trở nên u ám hơn khi Ta-ma theo tục lệ của Do Thái phải kết hôn với người em kế của Ê-rơ, nhưng rồi người này cũng bị Đức Chúa Trời giết chết như anh mình. Sau đó Ta-ma lại trở thành kỵ nữ, một kỵ nữ ven đường, thực hiện những hành động rất khó hiểu…

Một phân đoạn Kinh Thánh vỏn vẹn chỉ hơn một trang, kể về một phần đời của Ta-ma, những nỗi khổ tâm, hoàn cảnh trái ngang lẫn điều tai tiếng mà nàng phải gánh chịu đột ngột chấm dứt mà không hề được nhắc lại gì cả cho đến sách chương một, Tân Ước Ma-thi-ơ. Tuy nhiên cũng chỉ có một câu ngắn ngủi, “Giu-đa bởi Ta-ma sanh Pha-rê và Xa-ra”, vậy thì có gì hấp dẫn để viết nên một cuốn tiểu thuyết hơn hai trăm trang sách?

Khi nhận được tập bản thảo “Ta-ma, ‘kỵ nữ’ bên vệ đường, người nữ của niềm tin và hy vọng” từ Thiên Hương, chưa đọc trang nào, tôi đã buông ra ngay lời ngợi khen sự can đảm của tác giả vì dám chọn một đề tài quá khó như vậy để viết.

Thông thường, khi dựng lại câu chuyện theo thể loại tiểu thuyết lịch sử, người viết có thể thêm thắt nhiều chi tiết, thậm chí có thể dựng nên một hay nhiều nhân vật hư cấu. Chẳng hạn như trong bộ trường thiên tiểu thuyết “Sông Côn Mùa Lũ”, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã cho nhân vật An là người yêu, là mối tình đầu của vua Quang Trung lúc chưa lên ngôi, sau đó lại cho nhân vật này có mối thâm tình với công chúa Ngọc Hân, vợ vua… Trên nguyên tắc, việc tạo dựng những nhân vật không có thật trong một cuốn tiểu thuyết lịch sử để giải thích hoặc biện hộ cho những ứng xử hay hành động của nhân vật có thật, là chuyện được phép, được chấp nhận, nên thường khi độc giả không lấy làm thắc mắc hay phê bình. Tuy nhiên ngược lại, nếu dùng những câu chuyện Kinh Thánh để viết thành truyện ngắn hoặc tiểu thuyết, tác giả (nhất là những nhà văn Cơ-đốc) chỉ có thể sử dụng những điều đã được ghi chép vì đó là lời Chúa được chép lại qua sự hà hơi của Ngài. Người viết không thể thay đổi tính cách nhân vật, hay tạo thêm tình tiết để truyện của mình hấp dẫn hơn.

Câu chuyện Ta-ma tự biến mình thành kỵ nữ, để có con với Giu-đa, ông gia của mình, bình thường đã là một chuyện khó được chấp nhận huống gì đó là một nhân vật có thật trong Kinh Thánh. Nhưng tại sao Ta-ma lại làm như thế? Tại sao nàng phải thực hiện hành động này? Và điều ấy có lợi gì cho nàng? Cho đời sau?

Trên hai trăm trang sách viết về kỵ nữ Ta-ma với những dày công nghiên cứu lời Chúa, các bạn sẽ được Thiên Hương giúp để tìm ra lời giải đáp. Tôi chắc chắn các bạn không chỉ hiểu rõ hơn vì sao Lê-a, Gia-cốp, Ê-sau, rồi Giu-đa, Ê-rơ…, cho đến Giô-sép đã phải nhận chịu hình phạt hoặc nhận sự thử thách, mà sẽ biết rõ hơn lý do nàng Ta-ma đã tự biến mình thành kỵ nữ. Tác giả sẽ giúp các bạn nhìn thấy sự quan trọng của phân đoạn Kinh Thánh này, và sẽ thấy ra niềm tin và hy vọng nằm ở nơi nào.

Tôi không hay viết khen một người bạn văn, càng không có thói quen ca ngợi một nhà thơ, nhà văn Cơ-đốc dẫu đó là tài năng mà Chúa ban cho họ để họ đã dùng ngòi bút mình để vinh danh Đấng Toàn Năng, bởi vì tôi không có thói quen ấy mà thôi. Nên vì vậy ở đây tôi sẽ không ca ngợi Thiên Hương. Nhưng tôi muốn nói với các bạn rằng hãy đọc, để thấy Chúa đã xử dụng đầy tớ Chúa như thế nào. Hãy ủng hộ “Ta-ma, ‘kỵ nữ’ bên vệ đường, người nữ của niềm tin và hy vọng” để khích lệ người chị em của chúng ta sau những ngày tháng miệt mài tra cứu và viết nên những trang sách bổ ích.

Vinh quang thuộc về ba ngôi Đức Chúa Trời. Hẳn trước khi viết tác giả đã khẳng định điều đó. Tôi tin chắc Đức Chúa Trời sẽ khen thưởng người hầu việc Chúa. Còn chuyện của chúng ta là hãy thanh thản ngồi xuống, lật “Ta-ma, ‘kỵ nữ’ bên vệ đường, người nữ của niềm tin và hy vọng” ra để thưởng thức giọng văn giản dị, không cầu kỳ của Thiên Hương.

                                                                                        Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 07 năm 2016
                                                                                                          HOÀNG NGA